Chính Nghĩa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Chính Nghĩa
Hành chính
TỉnhHưng Yên
HuyệnKim Động
Thành lập1992[1]
Địa lý
Tọa độ: 20°45′27″B 106°03′35″Đ / 20,7575°B 106,05972°Đ / 20.75750; 106.05972Tọa độ: 20°45′27″B 106°03′35″Đ / 20,7575°B 106,05972°Đ / 20.75750; 106.05972
Diện tích6,53 km²[2]
Dân số (1999)
Tổng cộng6257 người[2]
Mật độ958 người/km²
Khác
Mã hành chính12304[2]

Chính Nghĩa là một thuộc huyện Kim Động, tỉnh Hưng Yên, Việt Nam. Nằm ở phía Đông Bắc huyện lỵ Kim Động, cách thành phố Hưng Yên 10 km. Phía Đông giáp xã Vũ Xá, Tây giáp xã Ngũ Lão, Nam giáp thị trấn Lương Bằng, Bắc giáp xã Nhân La và xã Ngũ Lão, có vị trí quan trọng cả về kinh tế lẫn quân sự, là khu vực màu mỡ của đồng bằng Bắc Bộ. Xã gồm 4 thôn Dưỡng Phú, Tạ Hạ, Tạ Trung, Tạ Thượng. Diện tích tự nhiên 643,75 ha, diện tích canh tác 402 ha. Bình quân diện tích canh tác 1,8 sào/ khẩu.

Là vùng đất có lịch sử lâu đời từ thời kỳ các vua Hùng dựng nước, có thôn Dưỡng Phú là làng Việt cổ xưa lâu đời. Chính Nghĩa có địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai màu mỡ, rất thuận lợi cho phát triển nông nghiệp và là điều kiện quan trọng để dân cư sớm tập trung đông đúc định cư, lập nghiệp. Trước năm 1945 đơn vị hành chính gồm có các cấp: tỉnh, phủ, huyện, tổng, xã. Cấp xã lúc đó tương đương cấp thôn ngày nay, xã Dưỡng Phúc (nay là thôn Dưỡng Phú) thuộc tổng Bằng Ngang, xã Tạ Xá thuộc tổng Tạ Xá. Địa giới xã Tạ Xá so vào ngày nay là các thôn Tạ Hạ (hay làng Hạ Sảo hay làng Theo), Tạ Trung (hay tè Đông) và Tạ Thượng (hay Tè Thượng). Tháng 12/1946 do yêu cầu của cách mạng xã Tân Tiến được thành lập trên cơ sở hợp nhất xã Dưỡng Phú với xã Tạ Xá thuộc huyện Kim Động, phủ Khoái Châu. Sau đó chính quyền xoá bỏ cấp phủ và tổng lập các đơn vị hành chính là tỉnh, huyện, xã, thôn. Theo đó xã Tân Tiến thuộc huyện Kim Động. Tháng 6/1948 do yêu cầu của cách mạng cấp trên quyết định hợp nhất xã Tân Tiến với xã Cửu An thành xã Chính Nghĩa. Ngày 20/6/1955 tại đình thôn Động Xá cấp trên quyết định tách xã Chính Nghĩa thành 2 xã; xã Cửu An cũ lấy tên mới là xã Lương Bằng (nay là thị trấn Lương Bằng) xã Tân Tiến cũ được giữ tên cũ xã Chính Nghĩa

Năm 1968 tỉnh Hưng Yên được hợp nhất với tỉnh Hải Dương thành tỉnh Hải Hưng. Năm 1977, nhà nước quyết định đổi tên xã Chính Nghĩa thành xã Tạ Xá đến năm 1979 theo QĐ 79-CP của Hội đồng Chính phủ, huyện Kim Động sáp nhập với huyện Ân Thi thành huyện Kim Thi, xã Tạ Xá thuộc huyện Kim Thi. Năm 1993 Nhà nước quyết định đổi lại tên xã Tạ Xá thành xã Chính Nghĩa.

Năn 1996 thực hiện nghị định số 50 ngày 27-1-1996 của thủ tướng Chính phủ, huyện Kim Động được tái lập, xã Chính Nghĩa thuộc huyện Kim Động. Đến năm 1997 tỉnh Hưng Yên được tái lập, xã Chính Nghĩa vẫn thuộc huyện Kim Động.

Chính Nghĩa nằm ven sông Cửu An và quốc lộ 39A chạy từ phố Nối qua thôn Tạ Thượng, phố Ngàng, đến thị xã Hưng Yên qua Triều Dương sang Thái Bình; quốc lộ 38B chạy qua địa phận Chính Nghĩa từ phố Ngàng ra huyện lỵ Ân Thi đến Kẻ Sặt hợp vào quốc lộ 5 đi Hải Dương, Hải Phòng.

Là xã có truyền thống văn hoá lâu đời nên trong địa bàn xã có nhiều di tích lịch sử văn hoá như Đình Dưỡng Phú, Đình Tạ Trung, Đền Thọ Vực và tiêu biểu là di tích LSVH Miếu Mái - Chùa Dưỡng Phú ở cụm di tích này còn lưu giữ được nhiều di vật cổ thời Trần như 1 ngôi mộ cổ của bà chúa Phận Nguyễn Thị La là cung phi đệ nhị của vua Trần Anh Tông đã được viện khảo cổ học tiến hành khai quật năm 1975 trong đó có tháp đất nung, tiền cổ thời Lý- Trần gạch ngói hoa văn thời Trần và 1 bệ đá hoa sen cũng được tạo tác trong thời gian này trên bệ được khắc các mẫu hoa văn Rồng mây của nền mỹ thuật thời Trần, bốn góc có chim thần đang nâng đội bệ toà sen.

Là 1 xã có truyền thống cách mạng, trước cách mạng tháng Tám có đồng chí Hoàng Quốc Việt về hoạt động, nhiều gia đình trong xã tham gia nuôi giấu cán bộ cách mạng cho đến khi giành được độc lập, xã đã được nhà nước công nhận là AHLL vũ trang thời kì kháng chiến chống Pháp. Là mảnh đất hiếu học từ xưa có cụ Nguyễn Mậu Thông đỗ tiến sĩ khoa Canh Tuất 1556 đời Mạc Phúc Nguyên đến nay xã có nhiều tiến sĩ, giáo sư như giáo sư Đỗ Ninh, giáo sư Ngô Hàm và có 2 vị tướng lão thành cách mạng là đại tướng Nguyễn Quyết, thượng tướng Nguyễn Trọng Xuyên.,[2]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 117/1992/QĐ-TCCP
  2. ^ a ă â b “Mã số đơn vị hành chính Việt Nam”. Bộ Thông tin & Truyền thông. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2013. Truy cập ngày 10 tháng 4 năm 2012.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]