Chó Jindo

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Chó Jindo
Jindo dog face.jpg
Một con Jindo màu vàng (Hwanggu/hoàng cẩu)
Tên khác Chindo
Jindo
Jindo Gae
JindoGae
Jin dog
Jindo Gu
Nguồn gốc Nam Hàn
Đặc điểm
Korean name
Hangul진돗개
Hanja珍島狗
Romaja quốc ngữJindotgae
McCune–ReischauerChindotgae

Chó Jindo Hàn Quốc (tiếng Hàn: 진돗개; Hàn văn: 珍島狗, tiếng Anh: Korean Jindo) là một giống chó săn có nguồn gốc từ Hàn Quốc.

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Chó Jindo có cùng tên với đảo Jindo, tây nam Hàn Quốc. Trước năm 1970 đảo này hầu như biệt lập với thế giới bên ngoài, cho tới khi có cây cầu nối nó với đất liền. Ngoài cư dân đảo Jindo, phần lớn dân Hàn Quốc không biết một giống chó thuần chủng nào cả. Jindo rất gắn với người, là giống chó thông minh, có hệ khứu giác cực kỳ phát triển. Chúng có thể tự tìm đường về nhà từ khoảng cách hàng trăm km.

Jindo cũng có bản năng săn bắt phát triển và có sức mạnh khác thường. Chúng có thể nhảy qua các tường rào cao tới 3 mét. Jindo được dùng trong quân đội và là giống chó đánh hơi rất tốt. Chúng được xếp hạng thứ 53 trong các báu vật tự nhiên được bảo vệ của Hàn Quốc. Jindo còn có màu lông đen, đen-trắng, hay đỏ, trắng. Do lông chúng ngấm nước nên chúng rất sợ bị ướt, luôn tránh xa các vũng nước hay rất cảnh giác với các vòi nước trong vườn cũng như rất miễn cưỡng khi bị lôi đi tắm.

Thịt chó[sửa | sửa mã nguồn]

Người Triều Tiên cũng rất thích món thịt chó. Seoul (Hàn Quốc) ngày nay có cả một "phố thịt chó". Tại Thế vận hội Seoul năm 1980 và World Cup năm 2002, chính quyền Hàn Quốc phải cho đóng cửa các nhà hàng bán món này để tránh bị những người phương Tây yêu động vật kêu gọi tẩy chay. Tuy nhiên các món thịt chó Triều Tiên có phương thức chế biến khác Việt Nam. Thường thường thịt chó được người Triều Tiên rất quý, khi mổ chó họ hay cất giữ tủ lạnh và lấy ra dùng dần bằng cách cho vào nồi cùng với các loại rau, nấm nấu dưới dạng lẩu.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]