Bước tới nội dung

Chỉ thị Z.30

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(Đổi hướng từ Chỉ thị Z30)

Chỉ thị Z.30 là một chỉ thị mật dưới hình thức truyền miệng, từng xuất hiện vào khoảng tháng 3 năm 1983 tại Việt Nam với nội dung chính là điều tra, khám xét và tịch thu nhà cửa, tài sản của những gia đình bị nghi ngờ có "tài sản bất minh". Chỉ thị này nhắm vào những hộ gia đình sở hữu nhà từ hai tầng trở lên hoặc có đời sống khá giả, bị nghi ngờ là làm ăn phi pháp. Dù được phổ biến và tiến hành rộng rãi ở nhiều địa phương, nổi bật là Hà Nội, song các lưu trữ chính thức của Đảng Cộng sản Việt Nam (ĐCSVN) và Nhà nước Việt Nam không ghi nhận bất kỳ văn bản pháp quy hay chữ ký phê duyệt cụ thể nào cho chiến dịch này.

Chỉ thị Z.30 diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang lâm khủng hoảng trầm trọng dưới chế độ bao cấp và sự giằng co quyết liệt giữa tư duy kinh tế kế hoạch hóa tập trung với các phong trào "phá rào" Đổi Mới. Tại Hà Nội và một số tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, hàng trăm ngôi nhà đã bị tịch thu không thông qua tòa án, gây nên tâm lý hoang mang và sợ hãi trong người dân. Trong khi đó, các Bí thư Đoàn Duy Thành (Hải Phòng), Nguyễn Văn An (Hà Nam Ninh) và Nguyễn Văn Linh (Thành phố Hồ Chí Minh) đã kiên quyết phản đối hoặc trì hoãn thực thi vì cho rằng chỉ thị này thiếu tính chính danh, trái đạo lý và vi phạm pháp luật.

Sự phản đối gay gắt từ các địa phương tại Hội nghị Trung ương lần thứ 4, Ban Chấp hành Trung ương (BCHTƯ) khóa V vào tháng 6 năm 1983 đã dẫn đến việc đình chỉ Chỉ thị Z.30, dù không có lệnh hủy bỏ chính thức. Đến cuối thập niên 1980 và đầu thập niên 1990, chính quyền tiến hành sửa sai bằng cách trả lại nhà cửa và bồi thường cho các gia đình bị xử lý oan sai. Cho đến sau này, Chỉ thị Z.30 được nhìn nhận như một bước lùi trong quá trình đổi mới, tương tự với các chính sách "siết lại" của chính quyền giai đoạn 1983–1985.

Bối cảnh

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau 1975, cả nước Việt Nam bước vào chế độ bao cấp. Năm 1976, ĐCSVN đề ra Kế hoạch 5 năm lần thứ II, sau khi kế hoạch 5 năm lần thứ I bị ngưng trệ vì hoàn cảnh chiến tranh. Vì lúc này còn chịu ảnh hưởng nặng nề từ mô hình kinh tế và học thuyết chính trị của Liên Xô, ĐCSVN vẫn định kiến xem thị trường là đặc trưng của chủ nghĩa tư bản. Điều này dẫn đến việc Đảng chưa thừa nhận sản xuất hàng hóa và cơ chế thị trường, không thừa nhận sự tồn tại của nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ. Thay vào đó, Đảng xem kế hoạch hóa là đặc trưng quan trọng nhất của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa, lấy nguyên tắc phân bổ nguồn lực theo kế hoạch là chủ yếu thông qua hình thức tem phiếu, cấp phát. Chế độ kinh tế trong giai đoạn này lấy kinh tế quốc doanh và tập thể là xương sống, đồng thời muốn quốc hữu hóa tư liệu sản xuất, xóa bỏ sở hữu tư nhân và kinh tế cá thể, tư nhân để phát triển kinh tế theo kế hoạch tập trung.[1]

Do sao chép một cách máy móc, giáo điều những lý thuyết và tư duy kinh tế nói trên mà không có sự điều chỉnh hợp lý lẫn năng lực quản lý yếu kém, nền kinh tế Việt Nam dưới kế hoạch 5 năm lần thứ II nhanh chóng rơi vào khủng hoảng, trì trệ, đói nghèo lan rộng. Ngoài ra, với mục tiêu muốn tái thiết đất nước nhanh chóng lên công nghiệp hóa, vội vã đặt ra những mục tiêu quá cao dù nguồn lực còn hạn chế nên sự xung đột giữa lý thuyết và thực tiễn đã xảy ra, không chỉ khủng hoảng về kinh tế mà còn rơi vào khủng hoảng về niềm tin và lý tưởng chính trị trong xã hội.[1] Trong bối cảnh đó, nhiều cuộc "phá rào" trong kinh tế đã xuất hiện nhằm kịp thời giải quyết những khó khăn về lương thực và nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất. Khởi đầu là ông Võ Văn Kiệt – khi ấy còn là Bí thư Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh – từ năm 1979 đã đề ra nhiều chủ trương như mua gạo theo giá thỏa thuận thay vì giá mậu dịch; sử dụng người Hoa nhập hàng hóa bằng con đường trao đổi hàng hóa có sẵn, tính theo giá Đô la Mỹ;...[2]

Các phong trào "xé rào" tiếp tục lan rộng ra miền Bắc với những nhân vật điển hình như ông Đoàn Duy ThànhBí thư Thành ủy Hải Phòng,[3] ông Nguyễn Văn An – Bí thư Tỉnh ủy Hà Nam Ninh.[4] Nền kinh tế dần được nới lỏng; đời sống người dân cải thiện hơn. Hội nghị Trung ương lần thứ 6 của BCHTƯ khóa IV (tháng 9 năm 1979) và sau đó là Kế hoạch 5 năm lần thứ III đề ra nhiều quyết sách "cởi trói" cho các xí nghiệp quốc doanh, cho phép xí nghiệp được bán phần sản phẩm vượt kế hoạch cho Nhà nước hoặc buôn bán trên thị trường, đồng thời điều chỉnh thuế–giá lương thực và các chế độ phân phối cho nông dân và người lao động. Những quyết sách này ít nhiều đã tháo gỡ khó khăn về hàng hóa, hé mở những hướng đi mới cho nền kinh tế nói chung.[5]

Tuy nhiên, vì các phong trào "xé rào" diễn ra giai đoạn trên không được thừa nhận một cách chính thức, không chịu sự điều chỉnh của pháp luật nên thường bị coi là vi phạm vào kỷ cương của chế độ và dẫn đến các hiện tượng tiêu cực trong nền kinh tế. Giai đoạn 1982 và nhất là từ 1983 đã xuất hiện tình trạng vô tổ chức trong các quan hệ kinh tế; kế hoạch tập trung của Nhà nước bị các kế hoạch kinh tế 5 năm lần thứ II và thứ III làm rệu rã; Nhà nước không nắm được vật tư và những nguồn hàng hóa thiết yếu cho quốc gia. Các chính sách "bung ra", "cởi trói" sản xuất lại dẫn đến tình trạng tranh mua tranh bán, chộp giật trên thị trường, nâng khống giá dẫn tới khả năng thu mua của Nhà nước bị hạ thấp, làm thất thu ngân sách và lạm phát tăng cao.[5]

Đứng trước những khó khăn đó, đã xuất hiện luồng quan điểm chống đối sự cải cách và muốn đưa bộ máy quay trở lại cách làm cũ, với chủ trương Nhà nước nắm quyền kiểm soát và phân phối mọi nguồn lực xã hội, quản lý giá, lương thực, xóa bỏ thị trường tự do.[6][7] Phía quan điểm bảo thủ cho rằng sự phá rào trong kinh tế đang trở nên mất kiểm soát và làm nền kinh tế bị "chệch hướng" khỏi mô hình ban đầu. Đại hội Đảng lần thứ V (tháng 3 năm 1982) dù vạch ra những khuyết điểm, sai lầm của tư duy quản lý cùng mô hình tập trung quan liêu bao cấp nhưng vẫn chưa tìm được lối ra khỏi khủng hoảng kinh tế kéo dài.[7] Sau Đại hội Đảng lần thứ V, nhiều chủ trương, biện pháp "siết lại" từ chính quyền dần trở nên lộ rõ, từ việc tổ chức những buổi sinh hoạt chính trị trong Đảng viên đến phê bình các quyết sách kinh tế của Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, đình chỉ mua bán lương thực theo giá thị trường.[8] Đến Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 3 (tháng 12 năm 1982) và Nghị quyết 8 của Bộ Chính trị về công tác của Thủ đô Hà Nội (tháng 1 năm 1983), xu hướng bảo thủ tiếp tục được khẳng định và đưa vào quán triệt rộng rãi trong việc lập lại trật tự, siết chặt kỷ cương của nền kinh tế xã hội chủ nghĩa.[9]

Xuất hiện

[sửa | sửa mã nguồn]

Vào tháng 5 năm 1983, tức sau thời điểm hai nghị quyết trên được ban hành, nhiều tỉnh thành đồng loạt nhận một chỉ thị từ "Trung ương" mang mật danh Z.30, về tiến hành điều tra, khám xét những gia đình nghi là "bất minh"ː xây nhà từ hai tầng trở lên; bị xóm giềng tố cáo có vẻ giàu có, khá giả, mà "khá giả thì chỉ có thể gắn liền với làm ăn bất chính". Hầu hết các tỉnh thành trên cả nước đều nhận được lệnh từ "Trung ương" yêu cầu tiến hành chiến dịch này. Tuy nhiên, các lưu trữ của bên Đảng và Chính phủ không có văn bản pháp quy nào từ "Trung ương" về việc thực hiện Chỉ thị Z.30.[10]

Thuộc tính của chỉ thị là mật, không rõ của Ban Bí thư hay của Chính phủ. Vì là chỉ thị miệng nên không có người ký, không có văn bản, không dựa trên bất kỳ một điều khoản pháp luật hiện hành, cũng không dựa trên một chủ trương chính sách nào của Đảng. Ngay cả cấp Bí thư Thành ủy/Bí thư Tỉnh ủy, Bộ trưởng Bộ Công an, Văn phòng Trung ương ĐảngVăn phòng chính phủ cũng không rõ thuộc tính của Chỉ thị, hiệu lực thực thi của Chỉ thị mà chỉ được biết là Hà Nội lúc đó đã làm và các địa phương khác phải làm theo.[4][11]

Nguồn gốc

[sửa | sửa mã nguồn]

Có nhiều suy đoán về danh tính của người đứng đằng sau Chỉ thị Z.30. Giáo sư Trần Phương, Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đã kể lại về sự nổi lên của chỉ thị này như sauː "Trong một cuộc họp của Hội đồng Bộ trưởng vào khoảng giữa năm 1983, khi bàn về lập lại trật tự kinh tế, nhiều Bộ phản ánh tình hình lộn xộn trên thị trường, nhất là ở Hà Nội. Nào là ăn cắp vật tư, buôn bán lòng vòng hàng do Nhà nước quản lý, nào là có nhiều kẻ làm giàu bất chính, sống xa hoa trụy lạc, trong khi nhân dân thiếu thốn, có kẻ xây nhà mới sang trọng, nuôi chó béc-giê,... Phản ứng chung của cuộc họp là bất bình. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng [tức Phạm Văn Đồng] bỗng nặng giọng nói chêm vào một câu: "Phải khóa tay bọn chúng lại chứ!". Thế thôi, ông không kết luận rằng phải làm gì, và sau đó cũng không ai đề nghị làm gì cả, do đó văn phòng không làm văn bản. Nhưng một số Bộ liên quan đã căn cứ vào một câu của Chủ tịch cuộc họp mà ra Chỉ thị mật cho các tỉnh. Trong đó, Hà Nội hưởng ứng nhanh nhất và cũng mạnh nhất".[12]

Một số nguồn khác cáo buộc Đỗ Mười (sau này là Tổng Bí thư ĐCSVN) là người đưa ra Chỉ thị Z.30, bởi thời điểm đó ông cũng đang là Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng. Theo hồi ký Đoàn Duy Thành, trong một chuyến thăm về nhà máy đóng tàu ở Hải Phòng thời điểm chỉ thị đang diễn ra, Đỗ Mười đã có ý kiến với Bí thư Thành ủy về một ngôi nhà to trong khu vực và nói rằngː "Nếu tôi là Bí thư, Chủ tịch thành phố, tôi sẽ tịch thu cái nhà này làm nhà mẫu giáo".[11][13] Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh và Tổng Bí thư đương nhiệm Lê Duẩn cũng được ghi nhận là những cái tên tạo điều kiện hoặc chấp thuận để chiến dịch Z.30 được diễn ra.[12][14]

Thực hiện

[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay thời điểm Chỉ thị Z.30 xuất hiện, đã có nhiều thành phố và tỉnh thực hiện khá triệt để chiến dịch, tiêu biểu là Hà Nội, Thanh Hóa, Nghệ An,... tổ chức khám xét, tịch thu nhà và dùng báo chí để đấu tố, lên án những người có dấu hiệu bất chính.[15] Nhưng cũng có nhiều nơi, lãnh đạo lên tiếng phản đối, không thực hiện chủ trương vì cho rằng chỉ thị không có tính chính danh.

Ủng hộ

[sửa | sửa mã nguồn]

Hà Nội là nơi đầu tiên thực hiện Chiến dịch Z.30, trực tiếp nằm dưới sự chỉ đạo của Bí thư Thành ủy Hà NộiLê Văn Lương và có sự hỗ trợ từ Phó Bí thư Thành ủy Trần Quốc Hương, phụ trách an ninh nội chính.[10] Ngày 12 và 24 tháng 5 năm 1983, Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội lần lượt ra các quyết định "Kiểm tra xử lý những người có tài sản bất minh mua và xây nhà lớn". Theo thống kê của Nhà sử học kinh tế Đặng Phong, thời gian này đã có hàng trăm ngôi nhà bị công an khám xét và tịch thu với những lý do "hết sức kỳ quái"ː một ngôi nhà ở góc đường phố Huế và Nguyễn Công Trứ của một phi công lái máy bay bị tịch thu vì xây thêm tầng thứ hai và có làm toilet bằng gạch tráng men ngoại, mà những người làm quản lý lúc bấy giờ xem là "xa hoa, bất chính". Một ngôi nhà khác ở phường Ngọc Hà của một thủy thủ tàu viễn dương bị tịch thu vì "trong nhà có ti vi màu, có xe Honda Nhật" và vài lạng giò lụa thiu mà chủ nhân vứt đi – bị chính quyền cáo buộc "tiêu xài phung phí, của ngon vật lạ ăn không hết phải vứt vào sọt rác".[10] Ngoài ra, nổi lên trong thời gian này đã xuất hiện chiến dịch "quản lý nếp sống văn minh" mà thực chất là cấm nhạc vàng, theo dõi những người hay vào ăn các quán đắt tiền, chặn người chặn xe để khám xét, cắt tóc dài, rạch quần loe,...[16]

Theo ông Đoàn Duy Thành, tính tới thời điểm Chỉ thị lan đến Hải Phòng thì Hà Nội đã thực hiện tịch thu tổng cộng 105 nhà, cơ quan công quyền tịch thu tài sản của người dân mà không cần tòa án và cũng không có bất cứ một bằng chứng nào để có thể khẳng định đó là tài sản có được một cách bất hợp pháp.[4][11] Không chỉ tịch thu tài sản, tịch thu nhà mà những gia đình rơi vào diện khám xét cũng bị bắt đưa đi cải tạo.[10] Tờ báo Hànộimới đã đăng liên tiếp hàng chục bài đấu tố những hộ gia đình, cá nhân bị tịch thu, kê biên tài sản trên các mục "Xã luận", "Ý kiến bạn đọc".[17][18] Báo Nhân Dân của Đảng tháng 6 năm 1983 tiếp tục đăng 6 bài, một bài phê phán Bắc Giang và 5 bài phê phán Hải Phòng do không chịu tịch thu tài sản theo chỉ thị.[4][11] Điều này tạo nên nỗi hoang mang, sợ hãi trong người dân thành phố và nhân dân ở nhiều tỉnh, lo sợ bị bắt bớ, tịch thu tài sản bởi chính quyền.[10] Tình hình nhân dân bị tịch thu tài sản rất xấu. Có một gia đình bị tịch thu, cả nhà đội khăn tang, bị đẩy lên xe, khóc sướt mướt.[4][11]

Chống đối

[sửa | sửa mã nguồn]

Thành phố Hải Phòng do Đoàn Duy Thành làm Bí thư Thành ủy đã phản đối kịch liệt Chỉ thị Z.30, không chịu thực hiện khi chưa thấy văn bản thi hành chính thức. Giám đốc Công an thành phố Hải Phòng Dương Khắc Thụ vì tuân theo chỉ đạo ông Thành đã bị lãnh đạo Bộ Nội vụ triệu tập lên phê bình. Số gia đình ở Hải Phòng có khả năng bị tịch thu tài sản vì có nhà trên hai tầng lúc đó là khoảng 500 nhà.[4][11] Ông Thành cho biết nhiều lãnh đạo ở các địa phương khác cũng chần chừ trong việc thực hiện chiến dịch Z.30 nhưng không dám lên hỏi thẳng lãnh đạo Trung ương mà chỉ dò la tình hình những nơi khác.[19]

Tại tỉnh Hà Nam Ninh do Nguyễn Văn An làm Bí thư, công an tỉnh đã lập danh sách 200 gia đình xếp theo thứ tự ABC có nhà từ hai tầng trở lên để tiến hành tịch thu. Sau khi Nguyễn Văn An có một cuộc hội ý riêng với Đoàn Duy Thành, ông lựa chọn đốt danh sách khoảng 100 quyết định tại các thành phố Nam Định, hai thị xã Ninh BìnhHà Nam, đã được đóng dấu ngay trước đêm định thực hiện.[4][11] Đến sau này, trong một buổi phỏng vấn với nhà báo Bùi Hoàng Tám, ông An cho biết bản thân đã lên tận cả Trung ương để tìm hiểu từ đâu có chỉ thị này. Ông giải thích lý do không thực hiện Z.30 rằng: "Có giàu có gì đâu! Cả Nam Định ngày đó còn nghèo lắm, của cải có được là bao nhiêu. Những cái nhà nằm trong danh sách bị tịch thu ấy nó bé tẹo như cái chuồng chim thôi".[20]

Tại Bắc Giang, Bí thư Tỉnh ủy Nguyễn Thanh Quất đã chủ trương không thực hiện Z.30 khi chưa có văn bản chính thức từ Trung ương.[21] Thành phố Hồ Chí Minh do Nguyễn Văn Linh làm Bí thư Thành ủy cũng từ chối thực hiện Chỉ thị Z.30 vì cho rằng đây là chỉ thị miệng, không có văn bản, chữ ký nên không có căn cứ thi hành.[11]

Đình chỉ và khắc phục

[sửa | sửa mã nguồn]

Hội nghị Trung ương lần thứ 4 của BCHTƯ khoá V do Tổng Bí thư Lê Duẩn chủ trì, tổ chức tháng 6 năm 1983 để tổng kết tình hình nửa đầu năm và kế hoạch thực hiện 6 tháng cuối năm. Tại phiên họp đầu tiên do Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng kiêm Bộ trưởng Bộ Nội vụ Phạm Hùng điều khiển, bí thư Đoàn Duy Thành được chỉ định lên phát biểu đầu tiên. Ông đã nói một mạch 2 giờ liền về Chỉ thị Z.30, không chỉ công khai bày tỏ sự phản đối với các quyết định tịch thu nhà và gia sản mà còn đặt câu hỏi trực tiếp với ban lãnh đạo Trung ương về vấn đề nàyː[11]

Chúng ta làm cách mạng để làm gì? Người cộng sản hy sinh suốt đời cho nhân dân, đem lại hạnh phúc cho nhân dân, thử hỏi ta đã đem lại cho nhân dân cái gì, sau khi đất nước đã được thống nhất 8 năm? Những việc của chúng ta làm là trái đạo lý. [...] Ta chưa xây dựng thì để cho dân xây trước, còn ta sẽ xây dựng lớn hơn, cả nước thành công trường, xây dựng Chủ nghĩa xã hội. [...] Tôi đã nói với nông dân xã Châu Xá: "Khi kháng chiến thắng lợi, bà con sẽ hết cảnh nghèo khổ, không còn ở nhà tranh vách đất, mà ở nhà xây". Họ vỗ tay hoan hô không ngớt. Nay độc lập thống nhất rồi, mình không có tiền xây nhà cho dân ở, họ xây ta tịch thu, hỏi còn đạo lý gì nữa?

Sau khi Đoàn Duy Thành hoàn thành bài phát biểu, Phạm Hùng đã đứng dậy ủng hộ. Lê Duẩn cũng tỏ ra đồng tình với các quan điểm này.[22] Ông đã đứng dậy phân tích đạo lý của Đảng, của dân tộc, nguyện vọng của quần chúng nhân dân và mời "đồng chí nào nói đạo lý hơn đồng chí Thành" cứ phát biểu. Một số đại biểu từ Thành phố Hồ Chí Minh cùng bí thư Nguyễn Thanh Quất sau cùng tiếp lời ủng hộ góc nhìn của đồng cấp. Không có một ý kiến phản biện nhằm bảo vệ Chỉ thị Z.30 từ toàn thể những người tham dự hội nghị ngày hôm đó. Sau hội nghị nói trên, Chỉ thị Z.30 đã không tiếp tục thi hành nhưng cũng không có lệnh đình chỉ chính thức vì không có căn cứ ra văn bản.[11]

Trong thời gian diễn ra, Chỉ thị Z.30 đã làm hàng trăm gia đình bị tịch thu nhà, đẩy họ vào cảnh khốn khó.[4][11] Nổi bật có trường hợp của ông "vua lốp" Nguyễn Văn Chẩn, vốn thời điểm đó đang nổi lên với việc kinh doanh thương hiệu lốp Quyết Thắng, được chính quyền địa phương ghi nhận.[23] Sau khi bị công an phát lệnh tịch thu gia sản và bắt giữ, ông Chẩn đã đem gia đình đi lánh nạn và kêu oan khắp nơi. Đến năm 1985, Viện kiểm sát nhân dân tối cao mới ra quyết định hủy bỏ quyết định miễn tố của Sở Công an Hà Nội, quyết định đình chỉ điều tra và yêu cầu trả lại tài sản cho ông Chẩn, khôi phục danh dự cho ông.[24]

Từ năm 1989, Hà Nội bắt đầu sửa sai chiến dịch Z.30 theo thông báo số 83 TB/TW ngày 8 tháng 8 năm 1986 của Ban Bí thư Trung ương Đảng: "Đối với những trường hợp kết luận, xử lý sai phải trả lại nhà và tài sản thu giữ của họ".[24] Đến năm 1992–1993, Hà Nội báo cáo đã căn bản giải quyết xong hậu quả của Chỉ thị Z.30 thông qua việc trao trả lại nhà hoặc thực hiện đền bù.[4][11] Tuy nhiên, hậu quả của nó về mặt lòng tin và trên tâm lý người dân thì chưa phai mờ.

Đánh giá

[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Chỉ thị Z.30 bị đình chỉ thi hành, xu hướng bảo thủ trong xây dựng kinh tế tập trung tiếp tục được khẳng định bởi những người đứng đầu bộ máy. Tháng 6 năm 1983, cũng tại Hội nghị Trung ương 4, ông Đỗ Mười đã trình bày báo cáo tình hình phân phối lưu thông, phê phán quá trình bung ra, vô tổ chức dẫn tới sự lộn xộn của thị trường, tăng giá, ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống. Tổng Bí thư Lê Duẩn nhận định việc "không làm chủ thị trường, phân phối lưu thông, [...] buông lỏng cải tạo công thương nghiệp tư nhân, cải tạo tiểu, thủ công nghiệp và tiểu thương" là "sai lầm nặng nhất" của Đảng và Nhà nước, "để cho bọn tư sản cũ và mới phục hồi và phát triển, có thêm thế lực chống chủ nghĩa xã hội". Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 5 tổ chức vào cuối cùng năm, Lê Duẩn vẫn cho rằng nguyên nhân của tình trạng rối ren và ách tắc trong kinh tế không phải do mô hình quản lý mà do những thế lực thù địch, xu hướng tự do vô chính phủ gây ra. Xu hướng quay lại con đường đẩy mạnh cải tạo, siết chặt quản lý tiếp tục được đưa ra và ngày càng đẩy mạnh.[25]

Sau này, trong bản "Báo cáo tổng kết một số số vấn đề lý luận – thực tiễn qua 20 năm đổi mới", Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhận định "Tình hình đó cho thấy sự đổi mới tư duy kinh tế là không đơn giản. Quan niệm cũ còn ăn sâu bám rễ trong nhiều người, thậm chí còn có người cho rằng không cần phải thay đổi. Cái mới chưa được khẳng định đã quay về cái cũ. Khủng hoảng kinh tế – xã hội ngày càng nghiêm trọng hơn".[26] Trên thực tế, giữa lúc chủ trương uốn nắn được đẩy mạnh thì Chủ tịch Hội đồng Nhà nước Trường Chinh – vốn được xem là người bảo thủ – đã có những thay đổi lớn về tư duy, đặc biệt là sau khi nghiên cứu những kết quả của các cải cách thời kỳ 1979–1982 và đi thực tiễn địa phương ở nhiều nơi.[27] Ông đã nêu ra ý kiến cần đổi mới và phải đổi mới triệt để tại các Hội nghị Trung ương lần thứ 6 và 7 của BCHTƯ khóa V, nhận được sự hưởng ứng rộng rãi.[28] Đến Hội nghị Trung ương lần thứ 8 (tháng 6 năm 1985), BCHTƯ ra quyết nghị tiến hành một cuộc cải cách lớn về "giá – lương – tiền" với mong muốn thoát khỏi cơ chế bao cấp quan liêu. Tuy nhiên, kế hoạch không thành công như mong đợi mà ngược lại khiến lạm phát lên tới ba con số, nền kinh tế vỡ trận hoàn toàn.[29] Song chính điều này khiến chính quyền nhận ra rằng phải tiến hành cải cách triệt để chứ không phải chắp vá giữa chính sách mới và cơ chế cũ. Sang đến Đại hội Đảng lần thứ VI (tháng 12 năm 1986), ĐCSVN đã thông qua chương trình cải cách toàn diện Đổi Mới, từng bước đưa đất nước ra khỏi tình trạng bất ổn về kinh tế và chính trị.[30]

Tùy quan điểm chính trị mà nhiều người lúc đó đã có các quan điểm trái ngược nhau. Có người coi Chỉ thị Z.30 như một biện pháp trong đấu tranh giai cấp, chống hữu khuynh, chống các quan chức tham nhũng. Người thì cho rằng đó là chỉ thị sai lầm, trái pháp luật và thiếu đạo lý.[4][11] Hồi ký Làm người là khó của Đoàn Duy Thành sau này kể lại: "Hai cuộc kháng chiến trường kỳ, bao sự hy sinh, nay "ký cóp" xây dựng được căn nhà, bị tịch thu với quan điểm cho rằng "làm ăn bất chính", tài sản không rõ ràng,... Nghĩ mà rơi nước mắt! [...] Giữa thời kỳ hòa bình xây dựng đất nước mà có những việc làm kỳ lạ như vậy, thật đáng làm một bài học cho các thế hệ cấp uỷ mai sau suy nghĩ và thận trọng. Khi sai sẽ gây ra bao oán thù, nó sẽ tích tụ chồng chất dần lên, thành những hận thù sâu xa đến tận đời con, đời cháu... Khi có biến cố chính trị, những người bị xử sai này dễ ngả về phe chống đối cách mạng mà ta không thể coi thường".[3] Tại Hội nghị Trung ương lần thứ 1 của BCHTƯ khóa VII tổ chức năm 1991, Phạm Hưng, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao trong phát biểu của mình đã đặt cho Chỉ thị Z.30 cái tên mới là Chỉ thị "Chết rét".[11]

Viết trong cuốn Tư duy kinh tế Việt Nam 1975 – 1989, nhà sử học Đặng Phong chỉ ra rằng Chỉ thị Z.30 xuất hiện đã cho thấy sự trỗi dậy của xu hướng tả khuynh cực đoan, được hỗ trợ bằng các chiến dịch tuyên truyền bôi nhọ, kích động căm thù giai cấp tương tự thời kỳ Cải cách ruộng đất, cải tạo tư sản ở miền Bắc sau 1954cải tạo tư sản ở miền Nam sau 1975.[31] Tuy nhiên, điều đáng chú ý là khác với sự đồng lòng từ trung ương đến địa phương, các tỉnh miền Nam và phía Bắc đã dũng cảm chống lại những chủ trương trên.[32] Đặt trong bối cảnh lịch sử tiền Đổi Mới, Đặng Phong nhận định Chỉ thị Z.30, cùng với các quyết sách khác của chính quyền giai đoạn 1983 đến 1985, là "những bước lùi trên con đường đi tới cơ chế thị trường". Song đó cũng là điều khó tránh khỏi trong thời kỳ phải "dò đá quá sông" khỏi khủng hoảng kinh tế, cũng như tình trạng "tranh tối tranh sáng" giữa phe cấp tiến và phe bảo thủ còn nhiều sự giằng co, trăn trở trong việc thay đổi hay giữ ổn định.[33]

Tham khảo

[sửa | sửa mã nguồn]
  1. 1 2 Nguyễn Văn Sáu 1991, tr. 6–10.
  2. Thu Hằng; Lê Tuyết (ngày 23 tháng 11 năm 2022). "Những lần 'xé rào' của cố Thủ tướng Võ Văn Kiệt". VnExpress. Lưu trữ bản gốc ngày 30 tháng 5 năm 2025. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2026.
  3. 1 2 "Hồi ký Đoàn Duy Thành - Chương 6: Thời kỳ đổi mới ở Hải Phòng". Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 11 năm 2007. Truy cập ngày 4 tháng 5 năm 2008.
  4. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 Bùi Hoàng Tám (ngày 4 tháng 3 năm 2008). "Câu chuyện "Z30" 25 năm trước - Bài 1: Bàng hoàng vì chỉ thị miệng". Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2026.
  5. 1 2 Đặng Phong 2017, tr. 208.
  6. "Giai đoạn 1975 - 1985". Bộ Công thương Việt Nam. ngày 23 tháng 6 năm 2021. Truy cập ngày 18 tháng 2 năm 2026.
  7. 1 2 Đặng Phong 2017, tr. 209.
  8. Đặng Phong 2017, tr. 210–212.
  9. Đặng Phong 2017, tr. 213–216.
  10. 1 2 3 4 5 Đặng Phong 2017, tr. 216.
  11. 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 Đoàn Duy Thành. "Chương 6. Thời kỳ đổi mới ở Hải Phòng". Làm người là khó (Tài liệu lưu hành nội bộ). Hà Nội. Bản gốc lưu trữ ngày 26 tháng 10 năm 2007. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026 qua Diễn Đàn Forum.
  12. 1 2 Đặng Phong 2009, tr. 247.
  13. Lê Trọng Hiệp. "Chân tướng Đỗ Mười". Việt Luận. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2026.
  14. Phan Lợi; Lê Kiên (ngày 7 tháng 3 năm 2008). "Không cản "Z30", khó có "đổi mới"". Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh. Truy cập ngày 24 tháng 2 năm 2026 qua WordPress.
  15. Đặng Phong 2017, tr. 217.
  16. Đặng Phong 2017, tr. 222.
  17. Đặng Phong 2017, tr. 218–221.
  18. Huy Đức 2012, tr. 455–456.
  19. Bùi Hoàng Tám (ngày 6 tháng 3 năm 2008). "Bài 3: "Hải Phòng có cách làm khác..."". Báo Pháp luật Thành phố Hồ Chí Minh. Bản gốc lưu trữ ngày 10 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2026.
  20. Bùi Hoàng Tám (ngày 5 tháng 3 năm 2008). "Bài 2: Không chấp nhận "làm theo"". Báo Pháp Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Bản gốc lưu trữ ngày 9 tháng 3 năm 2008. Truy cập ngày 21 tháng 2 năm 2026.
  21. Đặng Phong 2017, tr. 225.
  22. Nghiêm Minh (ngày 26 tháng 7 năm 2008). "Tầm nhìn - Người đi tìm tiền cho dân". Báo Sài Gòn Giải Phóng. Truy cập ngày 9 tháng 3 năm 2026.
  23. Lê Bảo Trung (ngày 25 tháng 9 năm 2006). "Kỳ 2: Vào tù vì tội... làm giàu". Báo Dân Trí. Truy cập ngày 23 tháng 2 năm 2026.
  24. 1 2 Lê Bảo Trung (ngày 3 tháng 10 năm 2008). "Kỳ cuối: Đỉnh điểm của oan trái". Báo Dân Trí. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2026.
  25. Đặng Phong 2017, tr. 225–227.
  26. Đặng Phong 2017, tr. 227–228.
  27. Đặng Phong 2017, tr. 229–235.
  28. Đặng Phong 2017, tr. 236–243.
  29. Đào Mạnh Đức (ngày 3 tháng 10 năm 2023). "Cuộc tổng điều chỉnh giá - lương - tiền năm 1985". Tạp chí Công Thương. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2026.
  30. Nguyễn Hoài (ngày 16 tháng 12 năm 2016). "Giá - lương - tiền: Cuộc cải cách xương máu trước Đổi mới". VnExpress. Truy cập ngày 20 tháng 2 năm 2026.
  31. Đặng Phong 2017, tr. 223.
  32. Đặng Phong 2017, tr. 224.
  33. Đặng Phong 2017, tr. 228.