Channa orientalis

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cá chành đục
Channa punctatus.JPG
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Actinopterygii
Bộ (ordo) Perciformes
Họ (familia) Channidae
Chi (genus) Channa
Loài (species) C. orientalis
Danh pháp hai phần
Channa orientalis
Bloch & J. G. Schneider, 1801

Cá chành đục (Danh pháp khoa học: Channa orientalis_ Bloch & Schneider, 1801) hay còn gọi là cá lóc Lích Lan (Ceylon snakehead) là một loài cá lóc bản địa của châu Á, chúng thuộc họ Channidae trong bộ cá vược Perciformes, ở Việt Nam chúng được cho là phân bố ở vùng núi, trung du và đồng bằng giáp núi, phân bố ở các tỉnh thuộc Nam Bộ, Tây Nguyên và Nam Trung Bộ, loài cá này đang còn tranh cãi về việc có tồn tại hay không ở Việt Nam[1].

Đặc điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Phần đầu[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu dẹp bằng cao, chiều dài đầu nhỏ hơn 1,5 lần chiều cao đầu. Rạch miệng xiên nhiều, kéo dài về sau tới hoặc quá viền sau mắt 1 ít. Lưỡi dẹp, hình tam giác dài, mút hơi tròn, 2 bên bằng thẳng. Đầu dẹp bằng thấp, chiều dài đầu lớn hơn 2 lần chiều cao đầu. Miệng hình cung sâu và hẹp, chiều dài lớn hơn chiều rộng. Rạch miệng xiên ít, kéo dài về sau tới ngang giữa mắt hoặc chưa tới viền sau mắt. Lưỡi dẹp, mút hơi nhọn dạng hình mũi mác, có eo thắt ngang ở giữa. Rạch miệng kéo dài về sau quá viền sau mắt một khoảng bằng đường kính mắt.

Phần thân[sửa | sửa mã nguồn]

Khởi điểm vây lưng sau khởi điểm vây bụng. Khởi điểm vây bụng tới vây hậu môn nhỏ hơn tới điểm đầu của màng mang 2 bên nối liền. Vẩy đường bên 42 - 46 chiếc. Vây lưng và vây hậu môn ở sát viền ngoài có 1 sọc dọc ngang đen đậm rõ ràng. Vây lưng, vây hậu môn và vây đuôi có viền ngoài màu đỏ hồng hoặc vàng (khi cá chết viền biến thành màu trắng). Chúng có 2 vây bụng, đường bên có 40-50 vẩy, không liên tục, gẫy khúc ở giữa. Vây lưng, vây đuôi và vây hậu môn có viền ngoài cùng màu đỏ hồng và ánh vàng. Vây lưng có 33-35 tia và vây hậu môn có 22-23 tia.

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Ở Việt Nam định loại hai loài cá này chưa được thống nhất. Nhiều tác giả cho rằng chỉ có một loài là Channa gachua phân bố ở Việt Nam; Theo đó, nhóm Cá Chành dục trên thế giới ghi nhận có 2 loài là: Cá Chành dục Channa orientalis Bloch & Schneider (1801) ở Đông Ấn Độ và Cá Chòi Ophiocephalus gachua Hamilton (1822), Channa gachua (Hamilton, 1822), sông Hằng - Ấn Độ[1].

Một số tác giả khác lại cho là chỉ có loài Channa orientalis (Bloch & Schneider, 1801) và cho rằng loài Channa gachua (Haminlton) là tên đồng vật (Synonym) của loài Channa orientalis (Bloch & Schneider& Lee_2004) và lại cho rằng ở Việt Nam có cả hai loài trên, nhưng đặc điểm phân loại và vùng phân bố không rõ ràng nên khó sử dụng. Khi khảo sát các mẫu vật thu được của nhóm cá này ở các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Hà Nam, Ninh Bình, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình và Quảng Trị đã xác định ở Việt Nam có đủ hai loài trên và còn thêm 3 loài mới, với đặc điểm hình thái và vùng phân bố rõ ràng[1]

Sau khi thu thập, các mẫu cá và các tài liệu nghiên cứu về các loài thuộc nhóm Cá Chành dục giống Channa, đang được lưu giữ tại Bảo tàng cá và thư viện của Viện Nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản I. Với điều kiện định loại và so sánh mẫu cá ở các vùng. Kết quả nghiên cứu xác định ở Việt Nam trong nhóm Cá Chành dục, thuộc giống Channa có 2 loài mà thế giới đã công bố và còn thu thêm được 3 loài cá mới với đầy đủ các đặc điểm hình thái đặc trưng và vùng phân bố[1].

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b Bản tin Viện Nghiên cứu Nuôi trồng Thủy sản I, Số 4 (Quý IV năm 2011)