Chiêu hồi

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Tờ rơi khuyến khích chiêu hồi
Giấy thông hành bảo đảm quân đối phương quy hàng sẽ được an toàn khi trình diện Quân lực Đồng minh
Túi nylon ghi lời khuyến dụ người hồi chánh

Chiêu hồi là một chương trình do chính phủ Việt Nam Cộng hòa đề ra để khuyến khích các thành phần của Mặt trận Giải phóng miền NamViệt Nam Dân chủ Cộng hòa buông súng quay về với phe Việt Nam Cộng hòa. Vận động tuyên truyền gồm dùng truyền đơn thả bằng máy bay hoặc bắn kèm với đạn pháo, và nhiều đợt phát thanh vô tuyến.[1] Bản nhạc "Ngày về" của Hoàng Giác được dùng làm nhạc khúc Chiêu hồi cho chương trình phát thanh.[2]

Những bộ đội, cán bộ trở về với bên Việt Nam Cộng hòa thì gọi là "hồi chánh". Thậm chí những người trong cơ sở hoạt động bị bắt, và những người không chịu được tra tấn mà khai ra đồng đội cũng được tính là hồi chánh. Trong những người hồi chánh được biết đến nhiều là nhà văn Xuân Vũ; Thượng tá Tám Hà, chính ủy F5; Trung tá Phan văn Xưởng; Trung tá Huỳnh Cự; ca sĩ Bùi ThiệnĐoàn Chính, con trai nhạc sĩ Đoàn Chuẩn.[3]

Thành lập[sửa | sửa mã nguồn]

Chương trình Chiêu hồi phát động dưới thời Đệ nhất Cộng hòa vào đầu năm 1963 dùng hai mẫu thực nghiệm: chương trình EDCOR của Philippines để chiêu dụ lực lượng cộng sản Hukbalahap và chương trình của Sir Robert Thompson thuộc quân đội Anh để bình định Malaysia.[4] Bản tuyên cáo của Tổng thống Ngô Đình Diệm ngày 17 tháng 4 năm 1963 mở đầu chiến dịch Chiêu hồi bằng cách kêu gọi quân đội đối phương trở về với "chính nghĩa quốc gia".[5] Chương trình này trực thuộc Bộ Công dân vụ dưới quyền của Bộ trưởng Ngô Trọng Hiếu[6] và một thời mang tên Phong trào Chiêu tập Kháng chiến Lầm Đường.[7]

Tiến triển[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1963 thì phân ban Chiêu hồi trực thuộc Phủ Thủ tướng. Năm 1965 thì chuyển sang Bộ Thông tin.[8] Sang thời Đệ nhị Cộng hòa thì chính phủ Việt Nam Cộng hòa nâng Phủ Đặc ủy Dân vận Chiêu hồi thành Bộ Chiêu hồi để điều hành hệ thống Chiêu hồi trên khắp 44 tỉnh thành của bốn vùng chiến thuật. Mỗi tỉnh thì có Ty Chiêu hồi.

Năm 1967 Việt Nam Cộng hòa đưa ra chính sách "Đại đoàn kết". Theo Việt Nam Cộng hòa, các thành phần hồi chánh không những được giúp đỡ để tái định cư và đoàn tụ cùng gia đình mà còn được sử dụng tài năng tương xứng với công việc ở bên kia chiến tuyến. Chính sách này chưa mấy đắc dụng thì cuộc Tổng Tấn công Tết Mậu Thân năm 1968 xảy ra. Sự kiện này làm gián đoạn chương trình Chiêu hồi vì tình hình an ninh bất ổn, nhưng đến năm 1969 thì số lượng hồi chánh lại tăng, đạt tổng số 47.023 người cho năm 1969.[9]

Theo số liệu của Việt Nam Cộng hòa đưa ra, trong thời gian từ năm 1963 đến 1973 chương trình Chiêu hồi thâu nhận hơn 194.000 người hồi chánh, tức là "loại được bấy nhiêu quân đối phương khỏi chiến trường" không cần dùng đến súng đạn.[10]

Người hồi chánh được chuyển vào một trong hơn 200 trại để học tập chính trị trong thời gian từ bốn đến sáu tuần. Cùng lúc đó họ được phát quần áo và thức ăn, đến khi xuất trại thì trả về nguyên quán hoặc định cư ở những vùng ấn định. Khi nhập trại thì hồi chánh lãnh 1.500 đồng tiền quần áo, 300 đồng cho mỗi tháng tại trại, và khi xuất trại thì được 1.200 đồng. Trên toàn quốc có 38 làng chiêu hồi để hồi chánh định cư.[11] Một số được kết nạp vào Cục Tâm lý chiến.[12]

Người hồi chánh bao gồm cả đàn ông và phụ nữ, xuất thân là Việt cộng, cán bộ tập kết hoặc cán bộ gốc Bắc. Một phần trong số các hồi chánh trở mặt với đồng đội cũ để chỉ điểm, chống phá các cơ sở và giúp đỡ cho Việt Nam Cộng hòa đánh thắng đối phương. Rất nhiều thành viên Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam dứt khoát với quá khứ. Tuy nhiên chính sách hồi chánh này lại bị nhiều người lợi dụng để kiếm chác, gây lãng phí tài chính, thổi phồng số liệu để có thêm tiền. Nghiêm trọng hơn, phía Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam lợi dụng chính chính sách chiêu hồi này để cài cắm điệp viên.

Ngày 18 tháng 2 năm 1973 Bưu chính Việt Nam Cộng hòa cho phát hành con tem "Chiêu hồi" trị giá 10 đồng, kỷ niệm người hồi chánh thứ 200.000.[13]. Tuy nhiên, con số 200.000 là một con số gây tranh cãi khi tổng quân số của Quân Giải phóng miền Nam Việt NamQuân đội Nhân dân Việt Nam ở miền Nam chỉ là 219.000 người[14]

Về mặt văn hóa và dân vận chương trình Chiêu hồi phổ biến nhiều nhạc phẩm được phát thanh trên đài vô tuyến Việt Nam, trong đó nhạc sĩ Anh Bằng có nhiều tác phẩm như "Bóng đêm", "Đôi bóng", "Nếu hai đứa mình", "Nếu ai có hỏi", "Giấc ngủ cô đơn"... đều là những bản nhạc có lời nhắn nhủ thành viên Việt Cộng quay về với gia đình.[15]

Phản ứng của đối phương[sửa | sửa mã nguồn]

Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam với sự hỗ trợ toàn diện của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sử dụng lực lượng An ninh Giải phóng thuộc lực lượng Công an Giải phóng để chống lại các chương trình chiêu hồi của Việt Nam Cộng hòa[16]. Lực lượng này đã vận dụng các hình thức khác nhau để đẩy mạnh phong trào “phòng gian bảo mật” trong cơ quan, đơn vị kháng chiến, trong nhân dân ở vùng giải phóng và khu căn cứ. Hướng dẫn quần chúng giữ gìn an ninh trật tự, tổ chức bảo vệ hành lang vận chuyển, căn cứ hậu cần – kỹ thuật phục vụ nhiệm vụ chiến đấu của quân Giải phóng. Các lực lượng An ninh Giải phóng và định hướng công tác an ninh tập trung chủ yếu thực hiện công tác điều tra cơ bản, nắm tình hình âm mưu, thủ đoạn hoạt động gián điệp của Mỹ và Việt Nam Cộng hòa, các tổ chức trá hình, các cơ quan đàn áp, bình định, chiêu hàng và các đảng phái Quốc gia để tham mưu phục vụ công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Cục, Khu ủy, Tỉnh ủy trong công tác bảo vệ nội bộ, phát triển lực lượng quần chúng. Lực lượng điệp báo nội đô đã nắm được và cung cấp nhiều nguồn tin tức rất có giá trị về số đối tượng làm tình báo, gián điệp, số nhân viên hành chính địa phương nguy hiểm, cung cấp cho lực lượng An ninh chủ động tổ chức công tác phòng ngừa, xử lý, phục vụ công tác phản gián bảo vệ cơ sở cách mạng. Chủ động phát hiện, đấu tranh bóc gỡ nhiều vụ nội gián nguy hiểm trong nội bộ, góp phần thuần khiết nội bộ; phát hiện, trấn áp kịp thời các hoạt động chống phá của đối phương, ngăn chặn các sơ hở mà đối phương có thể lợi dụng.

Chỉ tính từ năm 1963 đến năm 1965, lực lượng An ninh miền Nam đã phát hiện và xử lý 277 vụ nội gián, trong đó có 16 vụ từ cấp huyện trở lên. Được quần chúng giúp đỡ, lực lượng An ninh cũng đã phát hiện và bắt giữ được nhiều gián điệp xâm nhập vào vùng Mặt trận kiểm soát, phát hiện hàng trăm tình báo viên, mật báo viên của đối phương trong đó có nhiều người do đối phương cài lại. Trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975, Ban An ninh Trung ương Cục đã huy động hơn 13.000 cán bộ chiến sỹ các lực lượng An ninh Giải phóng (trong đó có hơn 1.500 cán bộ An ninh Trung ương Cục và đặc khu, hơn 1.000 cơ sở của lực lượng An ninh hoạt động trong nội thành) tham gia tiến công trên nhiều hướng, nhiều mũi, đánh thẳng vào các căn cứ sào huyệt của đối phương; tổ chức công tác tuyên truyền, phát động quần chúng nổi dậy, trừng trị, xử lý bọn gián điệp, tình báo, chiêu hồi, đầu sỏ ác ôn, chiếm lĩnh các mục tiêu được phân công, truy kích số đối tượng phản cách mạng lẩn trốn; tiếp quản, thu hồi tài liệu, phương tiện của địch bỏ lại, giải thoát tù nhân… Lực lượng An ninh T4 (An ninh Sài Gòn - Gia Định) nhanh chóng có mặt tại Phủ Tổng thống Việt Nam Cộng hòa tiếp cận thuyết phục Dương Văn Minh, Tổng thống chính quyền Sài Gòn kêu gọi binh sĩ ngừng bắn, bàn giao chính quyền cho cách mạng, góp phần tránh một cuộc chiến tranh trong thành phố và sự đổ máu không cần thiết[17].

Để chống chính sách chiêu hồi trong tù, các tù chính trị Cộng sản đã có chương trình "tự cung, tự cấp" và "có làm, có hưởng", thể hiện thái độ bất hợp tác với cai tù Việt Nam Cộng hòa. Vào tháng 7 năm 1971, đã có 3.000 tù nhân chính trị tại nhà tù Côn Đảo không tham gia lễ chào cờ Việt Nam Cộng hòa buộc nhà tù phải chuyển trại hơn 1.000 tù chính trị. Trong tù, các tù chính trị vẫn tiếp tục lập các chi bộ và Đảng bộ. Sau khi Hiệp định Paris 1973 được ký kết, Việt Nam Cộng hòa vẫn cố tình không trao trả hết tù chính trị cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam nhưng với sự đấu tranh kiên cường của các tù chính trị Việt Nam Cộng hòa đã phải thả hết các thành viên thuộc Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam. Phong trào "Chống chào cờ Ngụy" và "Chống lao động khổ sai" là hai phong trào phản kháng mạnh mẽ nhất của tù chính trị Cộng sản. Đỉnh điểm vào tháng 8 năm 1970, số người tham gia "Chống chào cờ Ngụy" là hơn 4.000 người. Trong phong trào "Năm ngôi sao toàn thắng" và "Sáu ngọn cờ đầu", đã có hàng trăm chiến sỹ Cộng sản hy sinh trong mỗi phong trào để chống lại chính sách chiêu hồi của Việt Nam Cộng hòa[18].

Tại nhà tù Chí Hòa, để chống lại chính sách chiêu hồi, tù binh và tù chính trị phát động hát bài Giải phóng miền Nam, quốc ca của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam trong khi cai tù Việt Nam Cộng hòa tổ chức chào cờ Việt Nam Cộng hòa[19]

Tại trại tù binh Cần Thơ, tù binh đều đã trải qua nhiều trại giam khác nhau, như: Phú Quốc, Biên Hòa, Pleiku... Trên 90% tù nhân bị bắt khi bị thương rất nặng, mất nhiều máu, lại bị đánh đập, tra tấn, cùng với chế độ lao tù hà khắc, ốm đau, bệnh tật liên miên nên sức khỏe rất yếu. Để lãnh đạo cuộc đấu tranh trong nhà tù, Đảng ủy nhà tù được thành lập. Các phòng giam đều thành lập chi bộ đảng, đoàn thanh niên, hội đồng hương... Để tránh cai tù phát hiện đàn áp, sinh hoạt Đảng chủ yếu diễn ra trong những thời gian đi bộ hoặc họp bí mật tại khu nhà bếp trại giam. Nhiệm vụ của Đảng ủy nhà tù là tìm hiểu, phát hiện những đảng viên trung kiên, tổ chức các phong trào đấu tranh cải thiện đời sống lao tù; bảo vệ, chăm sóc thương binh, người già, phụ nữ; bồi dưỡng lý tưởng cách mạng; phát hiện, bồi dưỡng quần chúng tích cực, phát triển Đảng trong tù; liên hệ, móc nối với cơ sở Đảng ngoài nhà tù để hoạt động đúng hướng. Để công khai, trực tiếp đấu tranh với cai tù, Ban đại diện tù binh ra đời gồm các đảng viên có năng lực, phẩm chất chính trị tốt, có trình độ lý luận, được mọi người tin tưởng bầu ra. Thành lập các tổ giúp việc như: Tổ an ninh chính trị, tổ đời sống, tổ tuyên truyền văn hóa - văn nghệ, tổ chăm sóc thương binh...Hình thức đấu tranh hô la - tuyệt thực - mổ bụng là hình thức đấu tranh tập thể cao nhất, quyết liệt nhất và hiệu quả nhất.[20]

Ngày 30/3/1972, trong khi Quân Giải phóng miền Nam Việt Nam và người dân miền Nam mở cuộc tấn công chiến lược vào tuyến phòng thủ đường 9 – Quảng Trị, Kon Tum, khu V, miền Đông Nam bộ và đồng bằng sông Cửu Long. Lực lượng An ninh Giải phóng đã phối hợp với bộ đội địa phương tấn công các chi cục cảnh sát, dinh tỉnh trưởng, ty chiêu hồi, cơ quan tình báo, biệt kích, hỗ trợ quần chúng phá ấp chiến lược trở về quê quán. Trong chiến dịch Tây Nguyên, lực lượng An ninh Giải phóng đã phối hợp với Quân Giải phóng phát động quần chúng nổi dậy diệt ác, phá kìm; đánh chiếm các mục tiêu được phân công, như trụ sở làm việc của ngụy quyền, cảnh sát, tình báo và tình báo trá hình, Ty phát triển sắc tộc, Ty chiêu hồi, tổ chức bình định nông thôn, các tổ chức đảng phái phản động, thu hồi toàn bộ hồ sơ, tài liệu của địch[21].

Những nhân vật hồi chánh[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Thượng tá Tám Hà, tức Trần Văn Đắc; chính uỷ sư 5
  2. Trung tá Huỳnh Cự
  3. Trung tá Phan văn Xưởng
  4. Trung tá Lê Xuân Chuyên
  5. Bác sĩ Đặng Tân, trưởng ty y tế Pleiku
  6. Nhà văn Xuân Vũ Bùi Quang Triết
  7. Nhạc sĩ Phan Thế[22]
  8. Diễn viên Cao Huynh
  9. Mai Văn Sổ[23] (em song sinh của Mai Văn Bộ)[24]
  10. Bùi Công Tương; uỷ viên tuyên huấn tỉnh Bến Tre

Lãnh đạo Bộ Chiêu hồi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tổng trưởng: Trần Văn Ân (tổng trưởng đầu tiên, tháng 3 đến 19-6-1965).
  • Tổng trưởng: Thiếu tướng Nguyễn Bảo Trị (19-6-1965 đến 9-11-1967).
  • Tổng trưởng: Nguyễn Xuân Phong (9-11-1967 đến tháng 3-1968).
  • Tổng trưởng: Tiến sĩ Tôn Thất Thiện (tháng 3-1968 đến 25-8-1968).
  • Tổng trưởng: Giáo sư Nguyễn Ngọc An (25-8-1968 đến 1-9-1969).
  • Tổng trưởng: Bác sĩ Hồ Văn Châm (1-9-1969 đến đến tháng 4-1973).
  • Tổng trưởng: Hoàng Đức Nhã (tháng 4-1973 đến tháng 4-1975).

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Kelley, Michael P. (2002). Where We Were In Vietnam. Hellgate Press. tr. F–13. ISBN 1-55571-625-3. 
  2. ^ Hoàng Giác bên giấc Mơ Hoa, trích báo Người Việt
  3. ^ “Trang nhất”. Việt Báo Online. Truy cập 1 tháng 3 năm 2015. 
  4. ^ Koch, JA. The Chieu Hoi Program in South Vietnam, 1963-1971
  5. ^ Koch, JA. The Chieu Hoi Program in South Vietnam, 1963-1971. Washington, D.C.: Department of Defense, 1973. Trang 46.
  6. ^ http://www.daiviet.org/dvc2.asp?action=vdt&mdn=826&chude_id=67
  7. ^ Pearce, R. Michael. Evolution of a Vietnamese Village - Part I. Santa Monica, CA: The Rand Corporation, 1985. Trang 52
  8. ^ Hà Thúc Ký. tr 319
  9. ^ Koch, JA. The Chieu Hoi Program in South Vietnam, 1963-1971. Trang 13.
  10. ^ Koch, JA. The Chieu Hoi Program in South Vietnam, 1963-1971. Trang 9.
  11. ^ The Chiêu Hồi Program in Vietnam
  12. ^ Smith, Harvey et al. tr 296
  13. ^ Chương trình Chiêu hồi
  14. ^ Le Gro, Col. William E. (1985), Vietnam from Cease-Fire to Capitulation, US Army Center of Military History, Department of the Army, p. 28
  15. ^ "Kỷ niệm về nhạc sĩ Anh Bằng". Houston, TX: Văn đàn Đồng tâm, 2009. Tr 31
  16. ^ http://www.baohaugiang.com.vn/newsdetails/1D3FE184CD1/Cong_an_nhan_dan_xung_dang_la_luc_luong_tin_cay_cua_Dang_Nha_nuoc_va_phuc_vu_nhan_dan.aspx
  17. ^ http://cand.com.vn/Phong-su-tu-lieu/Dau-tranh-lam-that-bai-cac-ke-hoach-tinh-bao-gian-diep-cua-My---nguy-o-mien-Nam-257779/
  18. ^ http://www.baotangbrvt.org.vn/index.php?Module=Content&Action=view&id=354&Itemid=315#
  19. ^ http://www.thuviendongnai.gov.vn/baiviet2015/ngayphunu/Lists/Posts/Post.aspx?List=1f8fffd0-ad4f-40fb-bcae-e5c4e7fc5f14&ID=11
  20. ^ http://hanoimoi.com.vn/Ban-in/Chinh-tri/680441/duong-den-chien-thang-cua-nhung-chien-si-mac-ao-tu
  21. ^ http://hvctcand.edu.vn/?q=node/6143
  22. ^ [1]
  23. ^ Papers mainly on the Vietnam War
  24. ^ Mai Văn Bộ

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hà Thúc Ký. Sống còn với Dân tộc, hồi ký chính trị. ? Phương Nghi, 2009.
  • Kelley, Michael P. Where We Were In Vietnam. ?: Hellgate Press.
  • Koch, JA. The Chieu Hoi Program in South Vietnam, 1963-1971. Washington, D.C.: Department of Defense, 1973.
  • Pearce, R. Michael. Evolution of a Vietnamese Village - Part I. Santa Monica, CA: The Rand Corporation, 1985.
  • Smith, Harvey et al. Area Handbook for South Vietnam. Washington, DC: US Government Printing Office, 1967.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]