Chiến dịch Chastise

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm


Chiến dịch Chastise
Một phần của Chiến tranh thế giới thứ 2
The breached Möhne dam
Đập Möhne sau cuộc tấn công.
Thời gian 16–17 tháng 5 năm 1943
Địa điểm sông Eder, MöhneSorpe (Röhr), Đức
Kết quả Kế hoạch thành công của không quân Anh, tác động lâu dài đến lực lượng Đức Quốc xã
Tham chiến
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland United Kingdom Đức Quốc xã Germany
Chỉ huy và lãnh đạo
Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland Guy Gibson Đức Quốc xã Josef Kammhuber
Lực lượng
19 máy bay đánh bom Lancaster Tập đoàn không quân số 12 (Đức Quốc xã)
(Lực lượng phòng thủ 3 đập)
Thương vong và tổn thất
8 máy bay bị bắn hạ,
53 phi công chết,
3 phi công bị bắt
2 đập bị thủng,
1 đèn đập bị phá hủy,
khoảng 1600 người chết
(bao gồm 1,000+ tù nhân và lực lượng lao động cưỡng bức, chủ yếu là người Liên Xô).

Chiến dịch Chastise là chiến dịch tấn công phá hủy những đập nước của lực lượng Đức Quốc xã vào ngày 16-17 tháng 5 năm 1943 bởi phi đoàn 617 của không quân Hoàng gia Anh, thường được biết đến như "chiến dịch phá hủy đập",[1] chiến dịch đã sử dụng một phát minh đặc biệt "dội bom" của ngài Barnes Wallis. Đập Möhne và đập Edersee đã bị phá hủy, và gây ngập lụt cả thung lũng Ruhr và nhiều ngôi làng ở thung lũng, đập Sorpe chỉ bị hư hỏng nhẹ. Hai trạm thủy điện bị phá hủy hoàn toàn và một số khác bị hư hỏng nhỏ. Các nhà máy và quặng mỏ gần đó cũng một số đã bị phá hủy. Xấp xỉ 1,600 dân thường bị chết đuối, khoảng 600 người Đức và gần 1000 người lao động Liên Xô. Tất cả thiệt hại được người Đức gần như sửa chữa ngay lập tức và hoạt động lại trong tháng 9 cùng năm.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Trước chiến tranh thế giới thứ 2, Bộ hàng không Anh Quốc đã phát hiện được vùng công nghiệp năng của Đức tại thung lũng Ruhr, đặc biệt là các đập nước, và các mục tiêu chiến lược đặc biệt như: các nhà máy thủy điện và nước sạch để sản xuất thép, đây cũng là nơi cung cấp nước uống và nước để cung cấp cho các kênh rạch hỗ trợ vận chuyển. Các phương pháp để tấn công đập đã được nghiên cứu kỹ lưỡng. Những tính toán cho thấy rằng nhiều cuộc không kích liên tiếp bằng bom hạng nặng sẽ mang lại kết quả, nhưng mục tiêu yêu cầu phải có tính chính xác cao từ máy bay ném bom để có thể vượt qua hệ thống phòng thủ của đập nước.

Khái niệm[sửa | sửa mã nguồn]

Nhiệm vụ được thiết lập dựa trên khái niệm chế tạo bom được thiết kế bởi Barnes Wallis và phát triển bởi đội nhóm của ông tại Vickers. Wallis lúc đó là phó giám đốc thiết kế tại Vickers. Ông từng làm việc tại cơ sở chế tạo bom tại Vickers WellesleyVickers Wellington. Khi làm việc tại Vickers Windsor, ông bắt đầu làm việc, với sự hỗ trợ của Bộ tư lệnh hải quân hoàng gia Anh, đã thiết kế bom để tấn công tàu bè, và bom để phá hủy đập cũng được xem xét đến.

Ý tưởng ban đầu của Wallis là thả bom khối lượng 10 tấn từ độ cao khoảng 40,000ft (12,200m). Đây từng là ý tưởng của khái niệm bom động đất. Trong thời gian đó, chưa từng có một máy bay ném bom nào bay ở độ cao đó và chuyên chở một khối lượng nặng như vậy. Một loại bom nhỏ hơn nhiều lần như vậy cũng có thể đủ để phá hủy, nếu nó phát nổ trực tiếp trước mặt đập và ngay dưới mặt nước, nhưng tại những hồ chứa chính của Đức luôn được bảo vệ bởi lưới chống ngư lôi để đề phòng những trường hợp như vậy.

Khả năng đột phá trong ý tưởng của Wallis chính là vượt qua được những chướng ngại vật. Quả bom có hình dạng một cái trống, được thiết kế đặc biệt, rất nặng và có thể nổ ở dưới nước với độ sâu lớn - trượt về phía sau khoảng 500rpm, phải được thả ở độ cao thấp vừa đủ, đúng tốc độ và điểm thả thì mới có thể nhảy trên mặt nước vượt qua các chướng ngại vật trước khi đến được mặt đập. Nếu trượt dư sẽ làm cho bom nằm phía trước cách xa mặt đập. Sử dụng một loại cầu chì thủy tĩnh, với một cú thả chính xác có thể vượt qua hệ thống phòng thủ của đập và kích hoạt quả bom nổ cách đập 1 khoảng cách nhỏ ngay bên dưới mặt nước.
Sử dụng 2 đèn chiếu để điều chỉnh độ cao, những chiếc Lancaster đã được tinh chỉnh phù hợp đã thả những trái bom có thể vượt qua được lưới chắn ngư lôi bảo vệ đập. Sau khi thả, quả bom sẽ tác dụng với mặt đập và chìm dưới mặt nước rồi sẽ phát nổ.
Phần còn lại của đập Nant-y-Gro sau khi bị phá lủng tại cuộc thử nghiệm tháng 7.1942.

Chuyển giao nhiệm vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Phó tư lệnh không quân Ralph Cochrane, Tư lệnh không đoàn Guy Gibson, Vua George VI và Đô đốc John Whitworth thảo luận về việc không kích đập vào tháng 5 năm 1943.

Các mục tiêu được lựa chọn là hai đập chính tại hượng nguồn khu công nghiệp vùng Ruhr, Đập Möhne và đập Sorpe, với Đập Edersee trên sông Eder, phần nằm tại Weser, như một mục tiêu thứ hai. Với sự mất mát quan trọng là năng lượng thủy điện, sự mất mát nguồn cung cấp nước cho công nghiệp, thành phố và các kênh rạch sẽ gây ra tác động lớn. Ngoài ra, có khả năng tàn phá của lũ lụt nếu các đập vỡ.

Chiếc máy bay được sửa đổi Avro Lancaster Mk llls, được gọi là B Mark III đặc biệt (Loại 464 Provisioning). Để giảm trọng lượng, nhiều phần giáp bảo vệ bên trong đã được loại bỏ, súng máy tháp pháo giữa phía trên. Kích thước của quả bom với hình dạng khác thường của nó bắt buộc cánh cửa thả bom phải được loại bỏ, và bom tự treo, một phần, bên dưới thân máy bay. Nó được gắn trên hai thanh đỡ, và trước khi thả nó được tách ra để tăng tốc độ bởi động cơ phụ trợ.[2]

Bom "Upkeep" được treo bên dưới máy bay Gibson's Lancaster B III (loại đặc biệt).
Barnes Wallis và cộng sự đang xem thử nghiệm bom Upkeep tại bờ biển Reculver, Kent

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Film of the Dam Busters Sydney Morning Herald, ngày 8 tháng 1 năm 1954, at Trove
  2. ^ "Avro Lancaster B Mk I." Warbird Photo Album.