Chim di trú

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Một bầy ngỗng hàu trong đợt di cư mùa thu.
Ví dụ về những chuyến di cư đường dài của chim.

Chim di trú, chim di cư hay sự di cư của chim chỉ sự di chuyển đều đặn theo mùa, thường trên một đường bay theo chiều bắc nam giữa nơi sinh sản và nơi trú đông. Nhiều loài chim có tập tính di cư. Tập tính này gây gánh nặng về nhu cầu kiếm mồi và khả năng tử vong cao, bao gồm cả việc bị con người săn bắn. Điều này xảy ra chủ yếu ở bán cầu bắc, nơi mà chim bay theo những đường bay cụ thể dựa trên những ranh giới tự nhiên như Địa Trung Hải hoặc biển Caribe.

Sự di cư của những loài như hạc, cu gáy và én được ghi nhận từ hơn 3.000 năm trước bởi các tác giả Hy Lạp cổ đại, bao gồm HomerAristotle, và trong Sách Job. Gần đây hơn, Johannes Leche bắt đầu ghi lại ngày mà chim di cư đến vào mùa xuân ở Phần Lan từ năm 1749. Các nghiên cứu khoa học hiện đại còn sử dụng những kỹ thuật như gắn thẻ và vệ tinh để theo dõi. Các mối đe dọa đối với chim di cư đã tăng lên cùng với sự phá hủy môi trường sống đặc biệt là những điểm trú đông, những công trình như đường dây điện và trang trại gió.

Nhàn Bắc cực giữ kỷ lục về khoảng cách di chuyển của các loài chim, với hành trình giữa nơi sinh sản ở bắc cực và nam cực mỗi năm. Một số loài tubenoses (Procellariiformes) như hải âu mày đen bay vòng quanh trái đất, qua các đại dương ở phía nam, trong khi những loài khác như manx shearwaters di chuyển 14,000 km (8,699 dặm) giữa các biển phía bắc (nơi sinh sản) và phía nam. Nhưng thường các chuyến di cư sẽ ngắn hơn, bao gồm cả di cư theo phương thẳng đứng ở các dãy núi như AndesHimalaya.

Thời gian di cư có vẻ phụ thuộc chủ yếu vào sự thay đổi độ dài ngày đêm. Chim di cư định hướng nhờ mặt trời, các ngôi sao, từ trường của trái đất và bản đồ tinh thần.

Tổng quan[sửa | sửa mã nguồn]

Quá trình di cư của các loài như cò, sếu, chim bồ câu được ghi nhận cách đây 3.000 năm bởi các tác giả Hy Lạp cổ đại, bao gồm Homer và Aristotle. Gần đây hơn, Johannes Leche bắt đầu ghi lại ngày đến của những con chim di cư mùa xuân ở Phần Lan năm 1749, và các nghiên cứu khoa học hiện đại đã sử dụng các kỹ thuật bao gồm theo dõi vệ tinh để theo dõi bầy chim di cư. Các loài chim di cư thường thấy là sếu xám, chim én (chim nhạn), cò trắng, hồng hạc Flamand, vịt trời, vịt trời đuôi nhọn, choi choi cát, chìa vôi, ngỗng đen (ngỗng Canada), ngỗng xám, nhạn Bắc Cực, chim Milan đen, vàng anh Châu Âu, nhạn bói cá, chim ruồi ngực đỏ, te te có mào, đầu rìu vân, chiền chiện, diều mốc, sáo đá[1]

Nhiều loài chim hàng năm thường di trú đến những nơi rất xa, cùng rất nhiều loài lại thực hiện những chuyến bay ngắn hơn và bất thường. Chim là động vật sống bầy đàn, chúng giao tiếp với nhau thông qua tiếng kêu và tiếng hót, tham gia vào những hoạt động bầy đàn như hợp tác trong việc sinh sản, săn mồi, di chuyển và tấn công chống lại kẻ thù. Một số loài chim cũng thích nghi bằng cách sử dụng protein từ nhiều bộ phận của cơ thể để cung cấp thêm năng lượng trong quá trình di trú[2]. Dãy núi Hi-ma-lay-a hằng năm cũng có hàng ngàn con thiên nga bay đi tránh rét, chúng phải bay vượt qua độ cao hơn 8000m, không phải con thiên nga nào cũng vượt qua được sự khắc nghiệt, có rất nhiều con đã bị đuối sức và rơi xuống[3].

Các quan sát trong lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Bản đồ từ trường của chim di trú

Như đã nhắc ở trên, các ghi chép về chim di cư đã có từ hơn 3.000 năm trước bởi các giả Hy Lạp cổ đại.[4] Kinh Thánh cũng ghi lại trong Sách Job,[5] "Có phải vì sự thấu hiểu của người mà chim ưng chao liệng và dang rộng đôi cánh bay về nam?" ("Is it by your insight that the hawk hovers, spreads its wings southward?"). Tác giả Sách Jeremiah[6] viết: "Ngay cả hạc trên trời cũng biết mùa của chúng, và cu gáy, vũ yến, sếu biết lúc nào cần phải đến." ("Even the stork in the heavens knows its seasons, and the turtle dove, the swift and the crane keep the time of their arrival.").

Aristotle viết rằng sếu di chuyển từ các thảo nguyên ở Scythia đến các đầm lầy thượng nguồn sông Nile. Pliny Già trong Lịch sử tự nhiên, cũng nhắc lại quan sát của Aristotle.[7]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Alerstam, Thomas (2001). “Detours in bird migration” (PDF). Journal of Theoretical Biology 209 (3): 319–331. PMID 11312592. doi:10.1006/jtbi.2001.2266. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 2 tháng 5 năm 2015. 
  • Alerstam, Thomas (1993). Bird Migration. Cambridge University Press. ISBN 0-521-44822-0.  (first published 1982 as Fågelflyttning, Bokförlaget Signum)
  • Berthold, Peter (2001). Bird Migration: A General Survey (ấn bản 2). Oxford University Press. ISBN 0-19-850787-9. 
  • Bewick, Thomas (1797–1804). History of British Birds (ấn bản 1847). Newcastle: Beilby and Bewick. 
  • Dingle, Hugh (1996). Migration: The Biology of Life on The Move. Oxford University Press. 
  • Hobson, Keith; Wassenaar, Leonard (2008). Tracking Animal Migration with Stable Isotopes. Academic Press. ISBN 978-0-12-373867-7. 
  • Weidensaul, Scott (1999). Living On the Wind: Across the Hemisphere With Migratory Birds. Douglas & McIntyre. 
  • White, Gilbert (1898) [1789]. The Natural History of Selborne. Walter Scott. 

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Khám phá những chuyến bay của chim di cư
  2. ^ Battley, Phil F.; Theunis Piersma, Maurine W. Dietz et als. (tháng 1 năm 2000). “Empirical evidence for differential organ reductions during trans-oceanic bird flight”. Proceedings of the Royal Society B 267 (1439): 191–5. PMID 10687826. doi:10.1098/rspb.2000.0986.  (Erratum in Proceedings of the Royal Society B 267(1461):2567.)
  3. ^ Mùa chim di trú
  4. ^ “Essential Migration: A Study of Surjeet Kalsey’s "Migratory Birds". www.academia.edu. Truy cập ngày 4 tháng 4 năm 2016. 
  5. ^ 39:26
  6. ^ 8:7
  7. ^ Lincoln, F. C. (1979). Migration of Birds.  Circular 16. Fish and Wildlife Service.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]