Epsilon Eridani b

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Epsilon Eridani b
Epsilon Eridani b.jpg
Hình ảnh cảm hứng nghệ sĩ của Epsilon Eridani b, mô tả nó như một hành tinh khí khổng lồ với các vành đai bao quanh. Thiên thể gần đáy hình là vệ tinh giả thuyết.
Khám phá
Khám phá bởiArtie P. Hatzes et al.
Nơi khám pháHoa Kỳ
Ngày phát hiện7-8-2000
Kĩ thuật quan sátQuang phổ học Doppler
Đặc trưng quỹ đạo[1]
Bán trục lớn3,48±0,02 AU
Độ lệch tâm0,07+0,06
−0,05
Chu kỳ quỹ đạo7,37±0,07 năm
Độ nghiêng quỹ đạo89°±42°
Kinh độ của điểm nút lên~180°+122°
−123°
Acgumen của cận điểm179°+47°
−45°
Biên độ11,48±0,66 m/s
Đặc trưng vật lý
Khối lượng0,78+0,38
−0,12
MJ
Nhiệt độ~150 K (−123 °C; −190 °F)

Epsilon Eridani b, còn gọi là Ægir,[2][a] là một hành tinh ngoài hệ Mặt Trời cách Trái Đất khoảng 10,5 năm ánh sáng và quay quanh ngôi sao Epsilon Eridani, trong chòm sao Ba Giang.

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Hành tinh và ngôi sao chủ của nó là một trong những hệ hành tinh được Hiệp hội Thiên văn Quốc tế chọn làm một phần trong quy trình công khai của họ để đặt tên riêng cho các ngoại hành tinh và ngôi sao chủ của chúng (nếu chúng chưa có tên riêng).[3][4] Quy trình này bao gồm đề cử đại chúng và biểu quyết cho các tên gọi mới.[5] Vào tháng 12 năm 2015, IAU công bố các tên gọi chiến thắng là Ægir cho hành tinh này (phát âm là /ˈər/ [Latinh hóa] hoặc /ˈjɪər/ và Ran cho ngôi sao chủ.[6] James Ott, một cậu bé 14 tuổi, đã gửi tên gọi cho cuộc thi IAU và giành chiến thắng.[7]

Phát hiện[sửa | sửa mã nguồn]

Sự tồn tại của hành tinh này đã được một tổ nghiên cứu Canada do Bruce Campbell và Gordon Walker chỉ huy trong đầu thập niên 1990 đặt ra, nhưng những quan sát của họ không đủ dứt khoát để tạo ra sự khẳng định phát hiện vững chắc. Phát hiện chính thức ra nó được nhóm do Artie P. Hatzes lãnh đạo công bố vào ngày 7 tháng 8 năm 2000. Những người khám phá cho rằng khối lượng của nó bằng 1,2 ± 0,33 lần so với Sao Mộc, với khoảng cách trung bình là 3,4 AU từ ngôi sao chủ.[8] Các nhà quan sát, bao gồm cả Geoffrey Marcy, cho rằng cần có thêm thông tin về hành vi nhiễu Doppler của ngôi sao được từ trường lớn và thay đổi của nó tạo ra trước khi xác nhận hành tinh này.[9]

Năm 2006 Kính viễn vọng không gian Hubble đã thực hiện các đo đạc tinh trắc học và xác nhận sự tồn tại của hành tinh này.[10] Những quan sát này chỉ ra rằng hành tinh này có khối lượng gấp 1,5 lần Sao Mộc và chia sẻ cùng một mặt phẳng như đĩa bụi bên ngoài được quan sát thấy xung quanh ngôi sao.[11]Độ lệch tâm quỹ đạo của hành tinh được coi hoặc là bằng 0,25[11] hoặc là bằng 0,7.[12]

Trong khi đó, Kính viễn vọng Không gian Spitzer đã phát hiện vành đai tiểu hành tinh ở khoảng cách khoảng 3 AU từ ngôi sao.[13] Năm 2009, nhóm của Brogi tuyên bố rằng độ lệch tâm của hành tinh được đề xuất và vành đai này là mâu thuẫn nhau: Hành tinh này sẽ đi ngang qua vành đai tiểu hành tinh và nhanh chóng dọn sạch vật chất của nó.[14] Hành tinh này và vành đai bên trong có thể là tương thích nếu như vật chất của vành đai đó là di cư từ vành đai sao chổi bên ngoài (cũng được biết là tồn tại).[15]

Các nhà thiên văn vẫn đang thu thập và phân tích dữ liệu vận tốc xuyên tâm, đồng thời cố gắng tinh chỉnh các giới hạn trên hiện có từ hình ảnh trực tiếp, trên Epsilon Eridani b và điều này đã dẫn đến một bài báo được xuất bản gần đây, tuyên bố rằng độ lệch tâm quỹ đạo của hành tinh ở cấp độ nhỏ hơn các ước tính ban đầu, vào khoảng 0,07 và phù hợp với quỹ đạo tròn, rất giống với độ lệch tâm quỹ đạo của Sao Mộc là 0,05.[1] Các đo đạc cập nhật cũng bao gồm các ước tính mới cho khối lượng và độ nghiêng của hành tinh, bằng 0,78 lần khối lượng Sao Mộc và độ nghiêng khoảng 89 độ.[1] Tuy nhiên, nếu hành tinh này được xác định là quay với cùng độ nghiêng như đĩa mảnh vụn là 34 độ thì khối lượng của nó sẽ lớn hơn, gấp 1,19 lần Sao Mộc.[1]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Do các khó khăn trong sắp chữ nên thông cáo báo chí của IAU viết thành ⟨AEgir⟩, với chữ chắp vá AE để chỉ chữ hợp thể æ.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b c d Mawet, Dimitri; Hirsch, Lea; Lee, Eve J.; Ruffio, Jean-Baptiste; Bottom, Michael; Fulton, Benjamin J.; Absil, Olivier; Beichman, Charles; Bowler, Brendan; Bryan, Marta; Choquet, Elodie; Ciardi, David; Christiaens, Valentin; Defrère, Denis; Gomez Gonzalez, Carlos Alberto; Howard, Andrew W.; Huby, Elsa; Isaacson, Howard; Jensen-Clem, Rebecca; Kosiarek, Molly; Marcy, Geoff; Meshkat, Tiffany; Petigura, Erik; Reggiani, Maddalena; Ruane, Garreth; Serabyn, Eugene; Sinukoff, Evan; Wang, Ji; Weiss, Lauren; Ygouf, Marie (2019). “Deep Exploration of ϵ Eridani with Keck Ms-band Vortex Coronagraphy and Radial Velocities: Mass and Orbital Parameters of the Giant Exoplanet” (PDF). The Astronomical Journal. 157 (1): 33. arXiv:1810.03794. Bibcode:2019AJ....157...33M. doi:10.3847/1538-3881/aaef8a. ISSN 1538-3881. OCLC 7964711337.
  2. ^ Carroll, Michael (2017), “Zeroing in on Earth 2.0”, Earths of Distant Suns (bằng tiếng Anh), Springer, tr. 79, doi:10.1007/978-3-319-43964-8_5, ISBN 978-3-319-43963-1, Planet name: AEgir | Original designation: Epsilon Eridani b
  3. ^ “NameExoWorlds: An IAU Worldwide Contest to Name Exoplanets and their Host Stars”. IAU.org. ngày 9 tháng 7 năm 2014. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2017.
  4. ^ “The ExoWorlds”. nameexoworlds.iau.org: IAU. Bản gốc lưu trữ ngày 31 tháng 12 năm 2016. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2017.
  5. ^ “NameExoWorlds”. nameexoworlds.iau.org: IAU. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 10 năm 2018. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2017.
  6. ^ “Final Results of NameExoWorlds Public Vote Released”. International Astronomical Union. ngày 15 tháng 12 năm 2015. Truy cập ngày 25 tháng 9 năm 2017.
  7. ^ “Mountainside wins competition to name planet, star”. Spokesman.com. Truy cập ngày 12 tháng 5 năm 2016.
  8. ^ Hatzes Artie P.; Cochran William D.; McArthur Barbara; Baliunas Sallie L.; Walker Gordon A. H.; Campbell Bruce; Irwin Alan W.; Yang Stephenson; Kürster Martin (2000). “Evidence for a Long-Period Planet Orbiting ε Eridani”. The Astrophysical Journal. 544 (2): L145–L148. arXiv:astro-ph/0009423. Bibcode:2000ApJ...544L.145H. doi:10.1086/317319.
  9. ^ Marcy, Geoffrey W.; và đồng nghiệp (7–11 Aug 2000). A. Penny (biên tập). Planetary Messages in the Doppler Residuals (Invited Review). Manchester, Vương quốc Anh. tr. 20–28. Bibcode:2004IAUS..202...20M. Đã bỏ qua tham số không rõ |booktitle= (trợ giúp)
  10. ^ “Hubble Zeroes in on Nearest Known Exoplanet”. Hubble News Desk. ngày 9 tháng 10 năm 2006. Truy cập ngày 10 tháng 10 năm 2006.
  11. ^ a b Benedict; McArthur, Barbara E.; Gatewood, George; Nelan, Edmund; Cochran, William D.; Hatzes, Artie; Endl, Michael; Wittenmyer, Robert; Baliunas, Sallie L. (2006). “The Extrasolar Planet ε Eridani b: Orbit and Mass”. The Astronomical Journal. 132 (5): 2206–2218. arXiv:astro-ph/0610247. Bibcode:2006AJ....132.2206B. doi:10.1086/508323. Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2008. Chú thích có tham số trống không rõ: |displayauthors= (trợ giúp)
  12. ^ Butler (2006). “Catalog of Nearby Exoplanets”. The Astrophysical Journal. 646 (1): 505–522. arXiv:astro-ph/0607493. Bibcode:2006ApJ...646..505B. doi:10.1086/504701. Đã bỏ qua tham số không rõ |displayauthors= (gợi ý |display-authors=) (trợ giúp)
  13. ^ Backman D.; Marengo M.; Stapelfeldt K.; Su K.; Wilner D.; Dowell C. D.; Watson D.; Stansberry J.; Rieke G. (2009). “Epsilon Eridani's Planetary Debris Disk: Structure and Dynamics Based on Spitzer and Caltech Submillimeter Observatory Observations”. The Astrophysical Journal. 690 (2): 1522–1538. arXiv:0810.4564. Bibcode:2009ApJ...690.1522B. doi:10.1088/0004-637X/690/2/1522. Chú thích có tham số trống không rõ: |displayauthors= (trợ giúp)
  14. ^ Brogi M.; Marzari F.; Paolicchi P. (2009). “Dynamical stability of the inner belt around Epsilon Eridani”. Astronomy and Astrophysics. 499 (2): L13–L16. Bibcode:2009A&A...499L..13B. doi:10.1051/0004-6361/200811609.
  15. ^ Martin Reidemeister; Alexander V. Krivov; Christopher C. Stark; Jean-Charles Augereau; Torsten Loehne; Sebastian Mueller (2010). “The cold origin of the warm dust around epsilon Eridani”. Astronomy & Astrophysics. 527: A57. arXiv:1011.4882. Bibcode:2011A&A...527A..57R. doi:10.1051/0004-6361/201015328.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: Sky map 03h 32m 55.8442s, −09° 27′ 29.744″