NGC 1266

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
NGC 1266
NGC1266 - hst 12526 R814G555B435.png
Hubble image of NGC 1266
Dữ liệu quan sát (Kỷ nguyên J2000)
Chòm saoBa Giang
Xích kinh03h 16m 00.7s[1]
Xích vĩ−02° 25′ 38″[1]
Dịch chuyển đỏ0.007238 ± 0.000017[2]
Vận tốc xuyên tâm Mặt Trời2170 ± 5 km s−1[2]
Khoảng cách (đcđ)29.9 Mpc[2]
Đặc tính
KiểuS0[2]
Bán kính hiệu dụng (vật lý)2.96 kpc
Bán kính hiệu dụng (biểu kiến)20.4"[2]
Đặc trưng đáng chú ýNhân thiên hà hoạt động, dòng chảy phân tử, bị triệt tiêu sự hình thành sao
Tên gọi khác
PGC 12131

NGC 1266 (tên gọi khác là PGC 12131) là tên của một thiên hà hình hạt đậu nằm trong chòm sao Ba Giang. Khoảng cách của nó và trái đất là 29,9 mega parsec. Mặc dù trạng thái hiện tại không phải là "starbrust" (một trạng thái thiên hà đã qua giai đoạn hình thành sao với tỉ lệ cực đại ở một khoảng thời gian lâu) mà nó chỉ vừa qua giai đoạn hình thành sao với tỉ lệ cực đại chỉ trong thời gian ngắn. Tỉ lệ hình thành sao mới với tỉ lệ lớn nhất bắt đầu giảm dần cách đây 500 triệu năm trước[3]. NGC 1266 có một nhân thiên hà hoạt động.[4]

Một dòng chảy Hydro có khối lượng rất lớn (khoảng 2.4 × 107 lần khối lượng mặt trời) xuất phát từ nhân thiên hà[4] với tỉ lệ 110 khối lượng mặt trời yr−1[5]. Ít hơn 2% khối lượng khí thoát ra từ thiên hà.[5]

Tỉ lệ hình thành sao hiện tại của nó là gần bằng 0,87 M khối lượng mặt trời trong một năm, điều này thì thấp hơn bình thường khi so với các thiên hà có cùng thuộc tính của nó. Để giải thích cho điều này, các nhà nghiên cứu đã đưa ra giả thuyết rằng có thể nhân thiên hà hoạt động đã điều khiển dòng chảy các phân tử của nó vào trong vùng trung tâm để ngăn sự sụp đổ hấp dẫn của các đám mây phân tử.[5]

Dữ liệu hiện tại[sửa | sửa mã nguồn]

Theo như quan sát, thiên hà này là thiên hà nằm trong chòm sao Ba Giang và dưới đây là một số dữ liệu khác:

Xích kinh 03h 16m 00.7s[1]

Độ nghiêng −02° 25′ 38″[1]

Giá trị dịch chuyển đỏ 0.007238 ± 0.000017[2]

Vận tốc xuyên tâm 2170 ± 5 km/s[2]

Loại thiên hà S0[2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b c d Paturel, G.; Petit, C.; Prugniel, Ph.; Theureau, G.; Rousseau, J.; Brouty, M.; Dubois, P.; Cambrésy, L. (2003). “HYPERLEDA. I. Identification and designation of galaxies”. Astronomy and Astrophysics. 412: 45–55. Bibcode:2003A&A...412...45P. doi:10.1051/0004-6361:20031411.
  2. ^ a b c d e f g h Cappellari, Michele; Emsellem, Eric; Krajnović, Davor; McDermid, Richard M; Scott, Nicholas; Verdoes Kleijn, G. A; Young, Lisa M; Alatalo, Katherine; Bacon, R; và đồng nghiệp (2011). “The ATLAS3D project - I. A volume-limited sample of 260 nearby early-type galaxies: Science goals and selection criteria”. Monthly Notices of the Royal Astronomical Society. 413 (2): 813–836. arXiv:1012.1551. Bibcode:2011MNRAS.413..813C. doi:10.1111/j.1365-2966.2010.18174.x.
  3. ^ Alatalo, Katherine; Nyland, Kristina; Graves, Genevieve; Deustua, Susana; Griffin, Kristen Shapiro; Duc, Pierre-Alain; Cappellari, Michele; McDermid, Richard M; Davis, Timothy A; và đồng nghiệp (2013). “Ngc 1266 As a Local Candidate for Rapid Cessation of Star Formation”. The Astrophysical Journal. 780 (2): 186. arXiv:1311.6469. Bibcode:2014ApJ...780..186A. doi:10.1088/0004-637X/780/2/186.
  4. ^ a b Alatalo, K; Blitz, L; Davis, T. A; Bureau, M; Lopez, L. A; Cappellari, M; Scott, N; Shapiro, K. L; Crocker, A. F; và đồng nghiệp (2011). “Discovery of an Active Galactic Nucleus Driven Molecular Outflow in the Local Early-Type Galaxy Ngc 1266”. The Astrophysical Journal. 735 (2): 88. arXiv:1104.2326. Bibcode:2011ApJ...735...88A. doi:10.1088/0004-637X/735/2/88.
  5. ^ a b c Alatalo, Katherine; Lacy, Mark; Lanz, Lauranne; Bitsakis, Theodoros; Appleton, Philip N; Nyland, Kristina; Cales, Sabrina L; Chang, Philip; Davis, Timothy A; và đồng nghiệp (2014). “Suppression of Star Formation in Ngc 1266”. The Astrophysical Journal. 798 (1): 31. arXiv:1410.4556. Bibcode:2015ApJ...798...31A. doi:10.1088/0004-637X/798/1/31.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

Tọa độ: Sky map 03h 16m 00.7s, −02° 25′ 38″