Hạ Tri Chương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Hạ Tri Chương ( 賀知章; 659 - 744), tự Quý Chân, người quê Vĩnh Hưng thuộc Việt Châu (nay là Hợp Phố tỉnh Quảng Đông) khi từ quan về làng tự xưng là Tứ Minh Cuồng khách, là nhà thơ đời Đường, Trung Quốc.

Tiểu sử sơ lược[sửa | sửa mã nguồn]

Đời Đường Trung Tông, đỗ tiến sĩ vào năm 684, được bổ làm Thái thường bác sĩ. Trong thời Khai nguyên, đời vua Đường Huyền Tông, ông làm Lễ bộ thị lang kiêm Tập hiền viện học sĩ, đổi làm Thái tử tân khách, rồi Bí thư giám. Đầu đời Thiên Bảo, ông xin từ quan về làm đạo sĩ.

Ông cùng với Trương Húc, Trương Nhược Hư, Bao Dung được người đương thời gọi là Ngô trung tứ sĩ (Bốn danh sĩ đất Ngô). Trong quyển Thơ Đường, Trần Trọng San cho biết: "Ở vào thời Sơ Đường, thơ của Ngô trung tứ sĩ không nhiều thì ít đều kế tục di phong phù mỹ của thời Lục Triều, nên được xếp vào phái thơ Ỷ mỹ phái." [1] Ông là bạn vong niên với Lý BạchBạch Thị Xuân Mai, từng gọi và Bạch Thị Xuân Mai là "bạn gái" (là người mình thích). Ông hơn Lý Bạch đến hơn bốn chục tuổi nhưng hai người kết bạn rất thân. Hạ Tri Chương giỏi về văn từ, có tài hùng biện, kiến thức uyên bác và trí nhớ đặc biệt , tính tình phóng khoáng , từng gọi Lý Bạch là "trích tiên" (tiên bị đày). Hạ Tri Chương thích uống rượu, tính tình hào phóng. Ông còn để lại 20 bài thơ, trong đó bài Hồi hương ngẫu thư là nổi tiếng nhất.

Ông mất năm 86 tuổi. Thơ văn của ông phần nhiều phục vụ cung đình. Có một số ít bài thơ xuất sắc phải kể đến là hai bài Hồi Hương Ngẫu Thư của Ông sáng tác khi từ quan về quê thăm nhà sau hơn năm mươi năm xa cách.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Trần Trọng San, sách ghi bên dưới, tr. 15.

Một số bài thơ tiêu biểu[sửa | sửa mã nguồn]

題袁氏別業

主人不相識,

偶坐為林泉。

莫謾愁沽酒,

囊中自有錢。

Đề Viên thị biệt nghiệp

Chủ nhân bất tương thức

Ngẫu tọa vị lâm tuyền

Mạc mạn sầu cô tửu

Nang trung tự hữu tiền.

Đề nhà riêng họ Viên

Dù rằng ta chẳng quen người

Suối tiên cảnh đẹp ngồi chơi chút nào

Muốn thì chút rượu đã sao

Sẵn tiền làm một vài ngao đỡ buồn.

(Người dịch: Song Nguyễn Hàn Tú)  

回鄉 偶書其一

少小離家老大迴,

鄉音無改鬢毛衰。

兒童相見不相識,

笑問客從何處來。

Hồi hương ngẫu thư kỳ 1

Thiếu tiểu li gia, lão đại hồi,

Hương âm vô cải, mấn mao tồi.

Nhi đồng tương kiến, bất tương thức,

Tiếu vấn: khách tòng hà xứ lai?

Về quê tự dưng viết kỳ 1

Bé đi, già mới về nhà,

Tiếng quê vẫn thế, tóc đà rụng thưa.

Trẻ con trông thấy hững hờ,

Cười ồ, hỏi khách lại từ phương nao.

(Người dịch: Trần Trọng Kim)

回鄉 偶書其二

離別家鄉歲月多,

近來人事少消磨。

惟有門前鏡湖水,

春風不改舊時波。

Hồi hương ngẫu thư kỳ 2

Ly biệt gia hương tuế nguyệt đa,

Cận lai nhân sự thiếu tiêu ma.

Duy hữu môn tiền Kính hồ thuỷ,

Xuân phong bất cải cựu thời ba.

Về quê tự dưng viết kỳ 2

Quê nhà xa cách đã bao thu,

Nhân sự gần đây đã xác xơ.

Riêng có Kính hồ bày trước cửa,

Gió Xuân không đổi sóng thời xưa.

(Người dịch: Trần Trọng Kim)

詠柳

碧玉妝成一樹高,

萬條垂下綠絲絛。

不知細葉誰裁出,

二月春風似剪刀。

Vịnh Liễu

Bích ngọc trang thành nhất thụ cao,

Vạn điều thuỳ hạ lục ty thao.

Bất tri tế diệp thuỳ tài xuất,

Nhị nguyệt xuân phong tự tiễn đao.

Vịnh Liễu

Ngọc biếc điểm cây một ngọn cao,

Vạn tơ rủ ánh lục rờn treo.

Nào hay lá mảnh ai đem cắt?

Ngọn gió cuối xuân tựa kéo dao.

(Người dịch: Điệp Luyến Hoa)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thơ Đường tập I, Nhà xuất bản Văn học, Hà Nội, 1978, tr. 39.
  • Trần Trọng San, Thơ Đường, Tủ sách Đại học tổng hợp TP. HCM xuất bản, 1990, tr. 44.
  • Những nền văn minh thế giới, Nhà xuất bản VH-TT, 1996, tr. 1283.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]