HMS Intrepid (D10)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
HMS Intrepid.jpg
Tàu khu trục HMS Intrepid (D10)
Phục vụ (Anh Quốc) Naval Ensign of the United Kingdom.svg
Hãng đóng tàu: J. Samuel White, Cowes, đảo Wight
Đặt lườn: 13 tháng 1, 1936
Hạ thủy: 13 tháng 1, 1936
Số phận: Bị đánh chìm bởi không kích, 27 tháng 9, 1943
Đặc điểm khái quát theo Whitley[1]
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục I
Trọng tải choán nước: 1.370 tấn Anh (1.390 t) (tiêu chuẩn)
1.888 tấn Anh (1.918 t) (đầy tải)
Độ dài: 323 ft (98 m) (chung)
Sườn ngang: 33 ft (10 m)
Mớn nước: 12,5 ft (3,8 m) (đầy tải)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Parsons
3 × nồi hơi ống nước Admiralty 3-buồng
2 × trục
công suất 34.000 shp (25.000 kW)
Tốc độ: 36 hải lý một giờ (67 km/h; 41 mph)
Tầm xa: 5.530 nmi (10.240 km; 6.360 mi) ở tốc độ 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
145 sĩ quan và thủy thủ
Hệ thống cảm biến
và xử lý:
sonar ASDIC
Vũ trang: 4 × pháo QF 4,7 in (120 mm) Mk. IX L/45 (4x1);
8 × súng máy Vickers 0,5 inch (12,7 mm) Mk.I (2x4);
10 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (5x2)
20 × mìn sâu, 1 × đường ray và 2 × máy phóng;
60 × mìn

HMS Intrepid (D10) là một tàu khu trục lớp I được Hải quân Hoàng gia Anh Quốc chế tạo ngay trước Chiến tranh Thế giới thứ hai, và đã phục vụ trong cuộc chiến tranh cho đến khi bị máy bay ném bom Đức Junkers Ju 88 đánh chìm trong biển Aegean năm 1943.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Intrepid được đặt hàng vào ngày 30 tháng 10, 1935 cho hãng J. Samuel White tại Cowes, đảo Wight trong Chương trình Chế tạo Hải quân 1935. Nó được đặt lườn vào ngày 13 tháng 1, 1936 và được hạ thủy vào ngày 17 tháng 12, 1936.

Intrepidtrọng lượng choán nước tiêu chuẩn 1.370 tấn Anh (1.390 t), và lên đến 1.888 tấn Anh (1.918 t) khi đầy tải. Con tàu có chiều dài chung 323 foot (98,5 m), mạn thuyền rộng 33 foot (10,1 m) và chiều sâu của mớn nước là 12 foot 5 inch (3,8 m). Nó được cung cấp động lực bởi hai turbine hơi nước hộp số Parsons, dẫn động hai trục chân vịt, cung cấp một công suất tổng cộng 34.000 mã lực càng (25.000 kW) và cho phép có được tốc độ tối đa 36 hải lý một giờ (67 km/h; 41 mph). Hơi nước được cung cấp cho các turbine bởi ba nồi hơi ống nước Admiralty 3 nồi. Nó mang theo tổng cộng 470 tấn Anh (480 t) dầu đốt, cho phép một tầm xa hoạt động 5.530 hải lý (10.240 km; 6.360 mi) khi di chuyển ở tốc độ đường trường 15 hải lý một giờ (28 km/h; 17 mph). Thủy thủ đoàn của con tàu gồm 145 sĩ quan và thủy thủ trong thời bình.[2]

Con tàu được trang bị bốn khẩu pháo QF 4,7 in (120 mm) Mk. IX 45-calibre trên các bệ nòng đơn. Cho mục đích phòng không, Intrepid có hai khẩu đội súng máy Vickers 0,5 inch (12,7 mm) Mk.I bốn nòng. Nó còn có hai dàn 5 ống phóng ngư lôi trên mặt nước dành cho ngư lôi 21 in (530 mm).[2] Một đường ray thả mìn sâu cùng hai máy phóng được trang bị, và ban đầu có 30 quả mìn sâu được mang theo,[3] nhưng được tăng lên 35 quả không lâu sau khi chiến tranh nổ ra.[4]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Thế Chiến II, Intrepid cùng với các tàu khu trục chị em HMS IvanhoeHMS Inglefield từng tấn công và đánh chìm tàu ngầm Đức U-45 về phía Tây Nam Ireland vào ngày 14 tháng 10, 1939. Nó cũng từng tham gia cuộc truy đuổi thiết giáp hạm Bismarck vào tháng 5, 1941, rồi tham gia Chiến dịch Pedestal hộ tống một đoàn tàu vận tải đi đến Malta vào tháng 8, 1942.

Intrepid được thị trấn Uxbridge đỡ đầu vào năm 1942 cho một chiến dịch quyên góp gây quỹ đài thọ cho chi phí của con tàu.[5]

Bia tưởng niệm thủy thủ đoàn của HMS Intrepid tại cảng Lakki

Trong trận Leros, Intrepid bị máy bay ném bom Junkers Ju 88 của Đức tấn công và đánh chìm trong cảng Leros trong vùng biển Aegean vào ngày 27 tháng 9, 1943, ở tọa độ 37°7′B 26°51′Đ / 37,117°B 26,85°Đ / 37.117; 26.850Tọa độ: 37°7′B 26°51′Đ / 37,117°B 26,85°Đ / 37.117; 26.850. Đây là chiếc tàu chiến Anh thứ hai bị mất dưới quyền chỉ huy của Trung tá Hải quân Charles de Winton Kitcat trong chiến tranh. Kitcat đã chỉ huy chiếc tàu chị em HMS Imperial khi nó bị mất đang lúc triệt thoái binh lính khỏi đảo Crete năm 1941.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Destroyers of World War Two, M. J. Whitley, 1988, Cassell Publishing ISBN 1-85409-521-8
  2. ^ a ă Whitley 1988, tr. 111
  3. ^ Friedman 2009, tr. 299
  4. ^ English 1993, tr. 141
  5. ^ Cotton, Carolynne (1994). Uxbridge Past. London: Historical Publications. ISBN 0-948667-30-3. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • English, John (1993). Amazon to Ivanhoe: British Standard Destroyers of the 1930s. Kendal, England: World Ship Society. ISBN 0-905617-64-9. 
  • Friedman, Norman (2009). British Destroyers From Earliest Days to the Second World War. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 978-1-59114-081-8. 
  • Haarr, Geirr H. (2010). The Battle for Norway: April-June 1940. Annapolis, MD: Naval Institute Press. ISBN 978-1-59114-051-1. 
  • Haarr, Geirr H. (2009). The German Invasion of Norway, April 1940. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 978-1-59114-310-9. 
  • Rohwer, Jürgen (2005). Chronology of the War at Sea 1939-1945: The Naval History of World War Two . Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 1-59114-119-2. 
  • Whitley, M. J. (1988). Destroyers of World War Two. Annapolis, Maryland: Naval Institute Press. ISBN 0-87021-326-1. 
  • Winser, John de D. (1999). B.E.F. Ships Before, At and After Dunkirk. Gravesend, Kent: World Ship Society. ISBN 0-905617-91-6.