Hoàng hậu Masako

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Hoàng Thái tử phi Masako)
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Masako
Hoàng hậu của Nhật Bản
Empress Masako 01.jpg
Hoàng hậu Masako vào năm 2018
Hoàng hậu Nhật Bản
Tại vị30 tháng 4 năm 2019
Đăng quang1 tháng 5 năm 2019
Tiền nhiệmHoàng hậu Michiko
Kế nhiệmđương nhiệm
Thông tin chung
Phối ngẫu
Thiên hoàng Naruhito (cưới 1993)
Hậu duệAiko, Công chúa Toshi
Tên đầy đủMasako Owada (小和田雅子?)
Thân phụHisashi Owada
Thân mẫuYumiko Egashira
Sinh9 tháng 12, 1963 (55 tuổi)
Toranomon Hospital, Toranomon, Minato, Tokyo, Nhật Bản
Tôn giáoShinto

Hoàng hậu Masako (雅子皇后 (Nhã Tử Hoàng hậu) Masako Kōgō?) (sinh ngày 9 tháng 12 năm 1963), là vợ của Đương kim Thiên hoàng Naruhito, hay còn gọi là Lệnh Hòa Thiên Hoàng của Nhật Bản. Bà trở thành thành viên của Hoàng gia Nhật Bản thông qua cuộc hôn nhân với Hoàng thái tử Naruhito.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Thời niên thiếu[sửa | sửa mã nguồn]

Owada Masako (小和田雅子 Tiểu Hòa Điền Nhã Tử?) sinh ra tại bệnh viện Toranomon ở Toranomon, Minato, Nhật Bản. Bà là con gái đầu lòng của ông Owada Hisashi, quan chức của Bộ Ngoại giao Nhật Bản và mẹ là Amiko từng làm thư ký Tổng giám đốc hãng hàng không Air France Far East trước khi kết hôn. Sau khi chào đời, Masako cùng gia đình cư trú tại khu Sakurajōsui, Setagaya, Tokyo thuộc Bộ Ngoại giao.[1]

Masako trải qua những năm đầu đời tại Liên Xô-Thuỵ Sỹ khi mới 1 tuổi do yêu cầu công tác của cha. Năm 2 tuổi, bắt đầu đi học tại nhà trẻ ban ngày Detskiysad số 1127, Moskva. Thời gian đầu Masako có khóc vì chưa quen ngôn ngữ và môi trường tập thể nhưng nhanh chóng tiếp thu tiếng Nga đồng thời giao tiếp với hai em gái bằng ngôn ngữ này, thậm chí ngủ mơ cũng nói tiếng Nga.[2] Thời gian này, cả gia đình sống tại Kutuzovsky, Moskva.

Từ tháng 5 năm 1968, theo gia đình sang Mỹ sinh sống tại đường Henry Hudson Parkway, Riverdale, New York. Tháng 9 cùng năm, khi 5 tuổi, vào học 1 năm ở trường mẫu giáo số 81 của thành phố New York. Trong 4 tháng đầu, Masako chưa thể giao tiếp với giáo viên và câu tiếng Anh đầu tiên nói được là "May I go to the bathroom ?". Tháng 9 năm 1969, cô vào học trường công số 81 Robert J. Christen School New York và bắt đầu học dương cầm.

Năm 1971 (khi 8 tuổi), gia đình trở về Nhật Bản, sau khi không trúng tuyển bài thi đầu vào của hai trường tiểu học, Masako vào lớp 1 trường tiểu học Meguro ở Meguro, Tokyo và chuyển sang lớp 2 trường tiểu học Tomihisa, Shinjuku vào tháng 5.[3] Tháng 4 năm 1972, chuyển trường và tốt nghiệp tiểu học tại trường nữ sinh Công giáo Futaba (田園調布雙葉中学校), Denenchofu, Tokyo mà mẹ và bà ngoại từng học. Masako học tiếp cấp 2 và cấp 3 tại đây, tham gia thành lập và hoạt động trong câu lạc bộ bóng mềm.[4]

Du học[sửa | sửa mã nguồn]

Tháng 7 năm 1979, gia đình Masako chuyển đến sống tại vùng ngoại ô Belmont của Boston, Massachusetts, Mỹ trong vòng 6 năm (cho đến tháng 6 năm 1985) nơi cha cô được mời làm giáo sư thỉnh giảng về luật quốc tế tại Trung tâm Quan hệ quốc tế thuộc Đại học Harvard.[5]

Năm 1979, Masako theo học trường trung học Belmont trong 2 năm và là chủ tịch Hội Học sinh Danh dự Quốc gia Hoa Kỳ.[6] Masako gia nhập câu lạc bộ toán, bóng mềm, tiếng Pháp và thắng một giải Goethe Society với bài thơ tiếng Đức.[5] Masako thậm chí còn tham gia sản xuất chương trình truyền hình dài tập M*A*S*H.[5]

Masako ghi danh vào khoa Kinh tế Quốc tế của Đại học Harvard/Radcliffe College năm 1981. Thời điểm tốt nghiệp trung học, cha cô nhận một thông báo ở Moskva, điều này quyết định rằng cô sẽ ở lại Boston để nhập học dưới sự giám hộ từ những người bạn của cha ở Harvard là Oliver và Barbara Oldman.[7]

Thời gian học Harvard-Radcliffe, Masako trở thành chủ tịch Hội sinh viên Nhật Bản của trường, "trở thành những người bạn thân thiết với lãnh sự quán Nhật Bản khi đó tại Boston, đồng thời tình nguyện là một đại sứ văn hoá và ngoại giao tự chỉ định"[8] trong bối cảnh căng thẳng thương mại Nhật Bản-Hoa Kỳ đang gia tăng. Masako có sở thích trượt tuyết và đi du lịch nước ngoài trong những kỳ nghỉ, sống cùng với một gia đình chủ nhà ở Pháp và học tập tại Viện Goethe.[7] Masako hợp tác với Jeffrey Sachs để có kết quả là học vị Cử nhân kinh tế loại giỏi vào tháng 3 năm 1985.[9]

Hôn nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Bà gặp Hoàng Thái tử Naruhito khi đang học tại Tokyo vào năm 1986 và họ đã yêu nhau dù tên bà không nằm trong danh sách những ứng cử viên cô dâu hoàng tộc bởi ông nội bà đã bị dính líu vào vụ bê bối Minamata. Họ đã tổ chức đám cưới ngày 9 tháng 7 năm 1993.

Cuộc sống hoàng cung của bà không hạnh phúc do áp lực từ quy tắc cuộc sống cung đình và phải sinh hoàng nam (bà chỉ sinh được công chúa Aiko). Từ tháng 12 năm 2003, bà đã không tiếp tục tham gia các hoạt động ngoại giao với tư cách là một thái tử phi dù thái tử luôn bênh vực và yêu thương vợ.

Bà trở thành Hoàng hậu vào ngày 1 tháng 5 năm 2019 sau khi cựu Thiên hoàng Akihito thoái vị và phu quân là Thiên hoàng Naruhito kế vị Ngai Vàng Hoa Cúc.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 歴代皇后人物系統総覧 trang 292
  2. ^ Ueno Kuroko (Cẩm nang giáo dục mầm non) (25 tháng 12 năm 2001). “雅子さまが受けられた小和田家の教育方針”. All About. Truy cập ngày 16 tháng 12 năm 2015. 
  3. ^ 歴代皇后人物系統総覧 trang 293
  4. ^ 歴代皇后人物系統総覧 đoạn cuối trang 293.
  5. ^ a ă â Hills, p. 92.
  6. ^ Green, Michelle (25 tháng 1 năm 1993). “Princess Bride: Oft Rejected, Japan's Crown Prince Gets a 'Yes' from a Harvard Grad”. People 39 (3). Truy cập ngày 16 tháng 11 năm 2011. 
  7. ^ a ă Hills, p. 95.
  8. ^ Hills, p. 101.
  9. ^ Hills, pp. 106–107.