JDS Yūgure (DD-184)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Các tàu khu trục Nhật Bản TeruzukiYūgure tại Guam, 1962.
Các tàu khu trục Nhật Bản TeruzukiYūgure tại Guam, 1962.
Phục vụ (Hoa Kỳ)
Tên gọi: USS Richard P. Leary (DD-664)
Đặt tên theo: Chuẩn đô đốc Richard P. Leary
Hãng đóng tàu: Xưởng hải quân Boston
Đặt lườn: 4 tháng 7 năm 1943
Hạ thủy: 6 tháng 10 năm 1943
Đỡ đầu bởi: bà George K. Crozer III
Nhập biên chế: 23 tháng 2 năm 1944
Xuất biên chế: 10 tháng 12 năm 1946
Xóa đăng bạ: 18 tháng 3 năm 1974
Danh hiệu và
phong tặng:
6 × Ngôi sao chiến trận
Số phận: Được chuyển cho Nhật Bản, 10 tháng 3 năm 1959; hoàn trả 10 tháng 3 năm 1974; bán để tháo dỡ 1 tháng 7 năm 1976
Phục vụ (Nhật Bản)
Tên gọi: JDS Yūgure (DD-184)
Trưng dụng: 10 tháng 3 năm 1959;
Xóa đăng bạ: 1974
Số phận: Hoàn trả cho Hoa Kỳ, 10 tháng 3 năm 1974
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Fletcher
Kiểu: Tàu khu trục
Trọng tải choán nước: 2.100 tấn Anh (2.100 t) (tiêu chuẩn)
2.924 tấn Anh (2.971 t) (đầy tải)
Độ dài: 376 ft 5 in (114,73 m) (chung)
Sườn ngang: 39 ft 08 in (12,09 m) (chung)
Mớn nước: 13 ft 9 in (4,19 m) (đầy tải)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số
2 × trục
công suất 60.000 shp (45.000 kW)
Tốc độ: 36 kn (41 mph; 67 km/h)
Tầm xa: 6.500 nmi (12.000 km) ở tốc độ 15 kn (17 mph; 28 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
329 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang:

5 × pháo 5 in (130 mm)/38 caliber (5×1);
10 × pháo phòng không Bofors 40 mm;
7 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm;
10 × ống phóng ngư lôi Mark 15 21 in (530 mm) (2×5);

6 × máy phóng K-gun và 2 × đường ray thả mìn sâu

JDS Yūgure (DD-184) là một tàu khu trục lớp Fletcher thuộc biên chế Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản.

Tàu nguyên là USS Richard P. Leary (DD-664) thuộc biên chế Hải quân Hoa Kỳ chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai. Nó là chiếc tàu chiến duy nhất của Hải quân Mỹ được đặt theo tên Chuẩn đô đốc Richard P. Leary (1842-1901), người tham gia cuộc Nộ chiến Hoa Kỳ và cuộc Chiến tranh Tây Ban Nha-Hoa Kỳ. Nó hoạt động cho đến hết Thế Chiến II, được cho xuất biên chế năm 1946.

Richard P. Leary được đặt lườn tại Xưởng hải quân BostonBoston, Massachusetts vào ngày 4 tháng 7 năm 1943. Nó được hạ thủy vào ngày 6 tháng 10 năm 1943; được đỡ đầu bởi bà George K. Crozer III; và nhập biên chế vào ngày 23 tháng 2 năm 1944 dưới quyền chỉ huy của Hạm trưởng, Trung tá Hải quân Frederic S. Habecker.

Thiết kế[sửa | sửa mã nguồn]

Lớp Fletcher là thế hệ tàu khu trục đầu tiên được thiết kế sau khi những giới hạn về kích cỡ tàu chiến của một loạt các hiệp ước hải quân trước đây mất hiệu lực. Sự phát triển về thiết kế một phần là giải pháp cho câu hỏi lớn luôn ám ảnh thiết kế của Hải quân Hoa Kỳ: tầm xa hoạt động cần thiết cho các chiến dịch tại Thái Bình Dương. Chúng phải mang theo không ít hơn năm khẩu pháo 5 in (127 mm) và mười ống phóng ngư lôi trên trục giữa ở sàn tàu, cho phép chúng đáp trả mọi thiết kế nước ngoài ở điều kiện ngang bằng. So sánh với những thiết kế trước đây, lớp Fletcher lớn hơn, cho phép chấp nhận việc bổ sung sau này hai khẩu đội Bofors 40 mm phòng không bốn nòng cũng như sáu khẩu đội Oerlikon 20 mm nòng đôi. Việc bổ sung cho dàn hỏa lực phòng không này đòi hỏi việc loại bỏ dàn ống phóng ngư lôi năm nòng phía trước, một thay đổi được thực hiện trong chương trình đối phó với máy bay kamikaze vào ngày 4 tháng 4 năm 1945.[1]

Phục vụ Nhật Bản[sửa | sửa mã nguồn]

Richard P. Leary cùng với tàu khu trục chị em USS Heywood L. Edwards (DD-663) được chuyển cho Nhật Bản vào ngày 10 tháng 3 năm 1959; và nó đã phục vụ cùng Lực lượng Phòng vệ Biển Nhật Bản như là chiếc JDS Yūgure (DD-184). Con tàu được hoàn trả quyền sở hữu cho Hoa Kỳ vào ngày 10 tháng 3 năm 1974, rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân Hoa Kỳ vào ngày 18 tháng 3 năm 1974, và bị bán để tháo dỡ vào ngày 1 tháng 7 năm 1976.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Friedman 2004, tr. 118

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]