Allen M. Sumner (lớp tàu khu trục)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lớp tàu khu trục Allen M. Sumner
USS Allen M. Sumner (DD-692) underway at sea on 28 August 1970 (NH 96635).jpg
USS Allen M. Sumner, chiếc dẫn đầu của lớp, 1970
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi:Lớp Allen M. Sumner
Xưởng đóng tàu:Federal Shipbuilding and Drydock Company;
Bath Iron Works;
Bethlehem Steel;
Todd Pacific Shipyards
Bên sử dụng: Hải quân Hoa Kỳ;
 Trung Hoa Dân Quốc;
 Hải quân Argentina;
 Hải quân Brasil;
 Hải quân Chile;
 Hải quân Quốc gia Colombia;
 Hải quân Hy Lạp;
 Hải quân Đại Hàn Dân Quốc;
 Hải quân Thổ Nhĩ Kỳ;
Iran Hải quân Đế quốc Iran;
 Hải quân Bolivar Venezuela
Lớp trước:lớp Fletcher
Lớp sau:lớp Gearing
Lớp con:lớp Robert H. Smith
Chi phí:8 triệu Đô la không kể vũ khí
Dự tính:70
Hoàn tất:58
Bị mất:4
Giữ lại:2
General characteristics
Type: Tàu khu trục
Displacement: list error: <br /> list (help)
2.200 tấn Anh (2.200 t) (tiêu chuẩn);
3.515 tấn Anh (3.571 t) (đầy tải)
Length: list error: <br /> list (help)
369 ft (112 m) (mực nước);
376 ft 6 in (114,76 m) (chung)
Beam: list error: <br /> list (help)
40 ft (12 m) (DD 692-709);
41 ft 3 in (12,57 m) (DD 770-776)
Draft: list error: <br /> list (help)
15 ft 9 in (4,80 m) (tiêu chuẩn);
19 ft (5,8 m) (đầy tải)
Propulsion: list error: <br /> list (help)
4 × nồi hơi Babcock & Wilcox hoặc Foster Wheeler;
2 × turbine hơi nước hộp số General Electric hoặc Westinghouse;
2 × trục;
công suất 60.000 shp (45.000 kW)
Speed: 34 kn (39 mph; 63 km/h)
Range: 6.000 nmi (11.000 km) ở tốc độ 15 kn (17 mph; 28 km/h)
Complement: 336-363 sĩ quan và thủy thủ
Armament:

list error: <br /> list (help)
Ban đầu:
6 × pháo 5 in (130 mm)/38 caliber (3×2) trên bệ Mk 38 nòng đôi;
12 × pháo phòng không Bofors 40 mm (2×4 & 2×2);
11 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm;
10 × ống phóng ngư lôi Mark 15 21 in (530 mm) (2×5);
6 × máy phóng K-gun và 2 × đường ray thả mìn sâu
Tiêu biểu 1950:
6 × pháo 5 in (130 mm)/38 caliber (3×2) trên bệ Mk 38 nòng đôi;
6 × pháo phòng không 3 in (76 mm)/50 caliber (2×2 & 2×1);
2 × súng cối chống tàu ngầm Hedgehog;
6 × máy phóng K-gun và 1 × đường ray thả mìn sâu
Tiêu biểu 1960-1965 sau FRAM II:
6 × pháo 5 in (130 mm)/38 caliber (3×2) trên bệ Mk 38 nòng đôi;
6 × ống phóng ngư lôi Mark 32 dành cho Ngư lôi Mark 44 (2×3);
2 × ống phóng cho Ngư lôi Mark 37 21 in (530 mm) (2×1);

1 × trực thăng không người lái chống tàu ngầm QH-50

Lớp tàu khu trục Allen M. Sumner là một nhóm 58 tàu khu trục được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai; và thêm mười hai chiếc khác được hoàn tất như những tàu khu trục rải mìn. Thường được gọi ngắn gọn là lớp Sumner, lớp tàu này mang đặc trưng tháp pháo 5-inch/38 caliber nòng đôi, hai bánh lái, vũ khí phòng không được bổ sung cùng nhiều cải tiến khác so với lớp Fletcher dẫn trước. Thiết kế của Allen M. Sumner được kéo dài thêm 14 foot (4,3 m) phía giữa tàu để trở thành lớp Gearing tiếp nối theo sau, vốn được chế tạo với số lượng lớn hơn.

Được hoàn tất trong những năm 1943-1945, bốn chiếc đã bị mất trong chiến tranh và một chiếc thứ năm bị hư hai nặng đến mức phải tháo dỡ không sửa chữa; những chiếc sống sót tiếp tục phục vụ cùng Hải quân Hoa Kỳ cho đến thập niên 1970. Sau khi nghỉ hưu khỏi hạm đội, 29 chiếc đã được bán cho hải quân các nước đồng minh, và tiếp tục phục vụ trong nhiều năm tiếp theo. Hai chiếc trong lớp hiện đang được giữ lại như những tàu bảo tàng tại South Carolina, Hoa Kỳ và tại Đài Loan.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Chiếc đầu tiên trong lớp được đặt lườn vào tháng 5, 1943, và chiếc cuối cùng được hạ thủy vào tháng 4, 1945. Giữa hai thời điểm này Hoa Kỳ đã chế tạo 58 tàu khu trục lớp Allen M. Sumner. Lớp tàu khu trục này là một cải tiến dựa trên lớp Fletcher dẫn trước, vốn được chế tạo từ năm 1941 đến năm 1944. Ngoài ba tháp pháo 5 in (130 mm)/38 caliber nòng đôi thay thế cho năm tháp pháo nòng đơn trên lớp Fletcher, Sumner còn có bánh lái kép giúp nó cơ động tốt hơn trong hoạt động chống tàu ngầm. Pháo chính 5-inch được dẫn bắn bởi Bộ điều khiển hỏa lực Mark 37 với radar điều khiển hỏa lực Mark 25 kết nối bởi Máy tính điều khiển hỏa lực Mark 1 và ổn định bởi con quay Mark 6 8.500 rpm. Hệ thống điều khiển hỏa lực này cho phép có được hỏa lực mặt nước hoặc phòng không tầm xa hiệu quả.

Allen M. Sumner còn có hỏa lực phòng không tầm gần mạnh hơn lớp Fletcher, với 12 khẩu Bofors 40 mm và 11 khẩu Oerlikon 20 mm, so với chỉ có 8 nòng 40 mm và 7 nòng 20 mm tiêu biểu trên những chiếc Fletcher được nâng cấp vào thời kỳ cuối chiến tranh. Thiết kế vũ khí ngư lôi hạng nặng ban đầu của Fletcher được giữ lại, với 10 ống phóng 21 inch (533 mm) trên hai bệ 5 nòng, phóng ra ngư lôi Mark 15. Nhưng với mối đe dọa nghiêm trọng của máy bay tấn công tự sát Kamikaze vào đầu năm 1945, và với số lượng ít ỏi hạm tàu nổi của Hải quân Nhật Bản còn sót lại, đa số những chiếc trong lớp đã tháo dỡ bệ phóng ngư lôi 21-inch phía sau, thay thế bằng một khẩu đội Bofors 40 mm bốn nòng, nâng tổng số nòng pháo 40 mm lên đến 16 khẩu.[1][2]

So với lớp Fletcher, lớp Allen M. Sumner tăng thêm 20% hỏa lực pháo 5-inch và xấp xỉ 50% hỏa lực phòng không hạng nhẹ trên một chiều dài chung tương đương, chỉ rộng hơn 15 inch (38 cm) và mớn nước sâu hơn 15 inch (38 cm). Trọng lượng choán nước chỉ tăng thêm 150 tấn, khoảng 7%; do đó lớp Allen M. Sumner là sự cải thiện đáng kể năng lực chiến đấu với chi phí tăng thêm không đáng kể.

Lớp tàu khu trục rải mìn (DM) Robert H. Smith, bao gồm mười hai chiếc, được chế tạo dựa trên cấu trúc lườn tàu được dự định cho lớp Allen M. Sumner. Gearing, lớp tàu khu trục tiếp nối theo sau Sumner, cũng có thiết kế tương tự, chỉ với chiều dài được kéo dài thêm 14 foot (4,3 m) phía giữa tàu để mang thêm nhiên liệu nhằm tăng tầm xa hoạt động.

Chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Destroyer Online - The Sumner Class As Built”. Truy cập ngày 25 tháng 8 năm 2009. 
  2. ^ Friedman 2004

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]