Allen M. Sumner (lớp tàu khu trục)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lớp tàu khu trục Allen M. Sumner
Allen m sumner-2.jpg
USS Allen M. Sumner, chiếc dẫn đầu của lớp, 1970
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi: Lớp Allen M. Sumner
Xưởng đóng tàu: Federal Shipbuilding and Drydock Company;
Bath Iron Works;
Bethlehem Steel;
Todd Pacific Shipyards
Bên sử dụng:  Hải quân Hoa Kỳ;
 Trung Hoa Dân Quốc;
 Hải quân Argentina;
 Hải quân Brasil;
 Hải quân Chile;
 Hải quân Quốc gia Colombia;
 Hải quân Hy Lạp;
 Hải quân Đại Hàn Dân Quốc;
 Hải quân Thổ Nhĩ Kỳ;
Iran Hải quân Đế quốc Iran;
 Hải quân Bolivar Venezuela
Lớp trước: lớp Fletcher
Lớp sau: lớp Gearing
Lớp con: lớp Robert H. Smith
Chi phí: 8 triệu Đô la không kể vũ khí
Dự tính: 70
Hoàn tất: 58
Bị mất: 4
Giữ lại: 2
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Tàu khu trục
Trọng tải choán nước: 2.200 tấn Anh (2.200 t) (tiêu chuẩn);
3.515 tấn Anh (3.571 t) (đầy tải)
Độ dài: 369 ft (112 m) (mực nước);
376 ft 6 in (114,76 m) (chung)
Sườn ngang: 40 ft (12 m) (DD 692-709);
41 ft 3 in (12,57 m) (DD 770-776)
Mớn nước: 15 ft 9 in (4,80 m) (tiêu chuẩn);
19 ft (5,8 m) (đầy tải)
Động cơ đẩy: 4 × nồi hơi Babcock & Wilcox hoặc Foster Wheeler;
2 × turbine hơi nước hộp số General Electric hoặc Westinghouse;
2 × trục;
công suất 60.000 shp (45.000 kW)
Tốc độ: 34 kn (39 mph; 63 km/h)
Tầm xa: 6.000 nmi (11.000 km) ở tốc độ 15 kn (17 mph; 28 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
336-363 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang:

Ban đầu:
6 × pháo 5 in (130 mm)/38 caliber (3×2) trên bệ Mk 38 nòng đôi;
12 × pháo phòng không Bofors 40 mm (2×4 & 2×2);
11 × pháo phòng không Oerlikon 20 mm;
10 × ống phóng ngư lôi Mark 15 21 in (530 mm) (2×5);
6 × máy phóng K-gun và 2 × đường ray thả mìn sâu
Tiêu biểu 1950:
6 × pháo 5 in (130 mm)/38 caliber (3×2) trên bệ Mk 38 nòng đôi;
6 × pháo phòng không 3 in (76 mm)/50 caliber (2×2 & 2×1);
2 × súng cối chống tàu ngầm Hedgehog;
6 × máy phóng K-gun và 1 × đường ray thả mìn sâu
Tiêu biểu 1960-1965 sau FRAM II:
6 × pháo 5 in (130 mm)/38 caliber (3×2) trên bệ Mk 38 nòng đôi;
6 × ống phóng ngư lôi Mark 32 dành cho Ngư lôi Mark 44 (2×3);
2 × ống phóng cho Ngư lôi Mark 37 21 in (530 mm) (2×1);

1 × trực thăng không người lái chống tàu ngầm QH-50

Lớp tàu khu trục Allen M. Sumner là một nhóm 58 tàu khu trục được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo trong Chiến tranh Thế giới thứ hai; và thêm mười hai chiếc khác được hoàn tất như những tàu khu trục rải mìn. Thường được gọi ngắn gọn là lớp Sumner, lớp tàu này mang đặc trưng tháp pháo 5-inch/38 caliber nòng đôi, hai bánh lái, vũ khí phòng không được bổ sung cùng nhiều cải tiến khác so với lớp Fletcher dẫn trước. Thiết kế của Allen M. Sumner được kéo dài thêm 14 foot (4,3 m) phía giữa tàu để trở thành lớp Gearing tiếp nối theo sau, vốn được chế tạo với số lượng lớn hơn.

Được hoàn tất trong những năm 1943-1945, bốn chiếc đã bị mất trong chiến tranh và một chiếc thứ năm bị hư hai nặng đến mức phải tháo dỡ không sửa chữa; những chiếc sống sót tiếp tục phục vụ cùng Hải quân Hoa Kỳ cho đến thập niên 1970. Sau khi nghỉ hưu khỏi hạm đội, 29 chiếc đã được bán cho hải quân các nước đồng minh, và tiếp tục phục vụ trong nhiều năm tiếp theo. Hai chiếc trong lớp hiện đang được giữ lại như những tàu bảo tàng tại South Carolina, Hoa Kỳ và tại Đài Loan.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]