Commencement Bay (lớp tàu sân bay hộ tống)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
USS Commencement Bay
Tàu sân bay hộ tống USS Commencement Bay (CVE-105), khoảng năm 1944
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi:Lớp tàu sân bay hộ tống Commencement Bay
Xưởng đóng tàu:Todd Pacific Shipyards
Seattle-Tacoma Shipbuilding Corporation
Bên sử dụng:Hoa Kỳ Hải quân Hoa Kỳ
Lớp trước:lớp Casablanca
Lớp sau:Không
Thời gian đóng:1943-1945
Thời gian hoạt động:1944-1971
Dự tính:33
Hoàn tất:21
Hủy bỏ:12
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu sân bay hộ tống Commencement Bay
Kiểu: Tàu sân bay hộ tống
Trọng tải choán nước: 10.900 tấn Anh (11.100 t) (tiêu chuẩn)
24.100 tấn Anh (24.500 t) (đầy tải)
Độ dài: 557 ft (170 m)
Sườn ngang: 75 ft (23 m) (mực nước)
105 ft 2 in (32,05 m) (sàn đáp)
Mớn nước: 30 ft 8 in (9,35 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số
2 × trục
công suất 16.000 shp (12.000 kW)
Tốc độ: 19 hải lý một giờ (22 mph; 35 km/h)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
1.066 sĩ quan và thủy thủ
Vũ trang: 2 × pháo Hải pháo 5 inch/38 caliber (1×2);
36 × pháo Bofors 40 mm phòng không (3×4, 12×2);
20 × pháo Oerlikon 20 mm phòng không
Máy bay mang theo: 34× máy bay

Lớp Commencement Bay là lớp tàu sân bay hộ tống cuối cùng được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo.

Những con tàu này dựa trên lườn của kiểu tàu chở dầu T3 của Ủy ban Hàng hải, có trọng lượng choán nước khoảng 24.100 tấn Anh (24.500 t) và chiều dài 557 ft (170 m). Không giống như đa số các tàu khu trục trước đó, vốn được đặt lườn như một kiểu tàu nào đó rồi được cải biến thành tàu sân bay trong quá trình chế tạo, lớp Commencement Bay được chế tạo từ lúc đặt lườn như một tàu sân bay. Cách bố trí chung tương tự như của lớp Sangamon, nhưng một số khiếm khuyết về kỹ thuật máy móc được khắc phục.

Chúng được đưa vào hoạt động trễ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, khi chiếc dẫn đầu của lớp Commencement Bay (CVE-105) chỉ được hạ thủy vào ngày 9 tháng 5 năm 1944; nên đa số các con tàu có rất ít hoặc không hoạt động trong chiến tranh. Ba mươi ba chiếc đã được đặt hàng, nhưng nhiều chiếc bị hủy bỏ trước khi hoàn tất. Mười chín chiếc đã nhập biên chế cùng Hải quân Hoa Kỳ; bốn chiếc bị tháo dỡ trên ụ đóng tàu lúc chiến tranh kết thúc, hai chiếc được nghiệm thu từ xưởng tàu nhưng chưa bao giờ nhập biên chế, và số còn lại bị hủy bỏ trước khi đặt lườn.

Sau chiến tranh, những chiếc trong lớp Commencement Bay được xem có tiềm năng hoạt động như tàu sân bay cho máy bay trực thăng, chống tàu ngầm hay tàu sân bay phụ trợ (vận chuyển máy bay). Một số chiếc đã phục vụ trong các vai trò này trong cuộc Chiến tranh Triều Tiên. Tuy nhiên kỷ nguyên của máy bay phản lực đã làm kết thúc sớm cuộc đời của chúng, khi các con tàu này có sàn đáp không đủ lớn để những máy bay phản lực vào cuối thập niên 1950 có thể hoạt động an toàn. Tất cả đều ngừng hoạt động hoặc cải biến sang vai trò khác vào năm 1960.

Những chiếc trong lớp[sửa | sửa mã nguồn]

Tên Số hiệu lườn Xưởng chế tạo Đặt lườn Hạ thủy Nhập biên chế Xuất biên chế Số phận
Commencement Bay CVE-105 Todd Pacific Shipyards 23 tháng 9 năm 1943 9 tháng 5 năm 1944 27 tháng 11 năm 1944 30 tháng 11 năm 1946 Rút đăng bạ 1 tháng 4 năm 1971; Bán để tháo dỡ 25 tháng 8 năm 1972
Block Island CVE-106 25 tháng 10 năm 1943 10 tháng 6 năm 1944 30 tháng 12 năm 1944 27 tháng 8 năm 1954 Rút đăng bạ 1 tháng 7 năm 1959; Bán để tháo dỡ 23 tháng 2 năm 1960
Gilbert Islands CVE-107 29 tháng 11 năm 1943 20 tháng 7 năm 1944 5 tháng 2 năm 1945
5 tháng 2 năm 1951
21 tháng 5 năm 1946
15 tháng 1 năm 1955
Rút đăng bạ 15 tháng 10 năm 1976; Bán để tháo dỡ 1 tháng 11 năm 1979
Kula Gulf (nguyên Vermillion Bay) CVE-108 16 tháng 12 năm 1943 15 tháng 8 năm 1944 12 tháng 5 năm 1945
15 tháng 2 năm 1951
3 tháng 7 năm 1946
15 tháng 12 năm 1955
Rút đăng bạ 15 tháng 9 năm 1970; Bán để tháo dỡ 1971
Cape Gloucester CVE-109 tháng 11 năm 1943 12 tháng 9 năm 1944 5 tháng 3 năm 1945 5 tháng 11 năm 1946 Rút đăng bạ 1 tháng 4 năm 1971; Bán để tháo dỡ
Salerno Bay CVE-110 7 tháng 2 năm 1944 19 tháng 10 năm 1944 19 tháng 5 năm 1945
20 tháng 6 năm 1951
4 tháng 10 năm 1947
16 tháng 2 năm 1954
Rút đăng bạ 1 tháng 6 năm 1960; Bán để tháo dỡ 30 tháng 10 năm 1961
Vella Gulf (nguyên Totem Bay) CVE-111 7 tháng 3 năm 1944 19 tháng 10 năm 1944 9 tháng 4 năm 1945 9 tháng 8 năm 1946 Rút đăng bạ 1 tháng 12 năm 1970; Bán để tháo dỡ 22 tháng 10 năm 1971
Siboney (nguyên Frosty Bay) CVE-112 1 tháng 4 năm 1944 9 tháng 11 năm 1944 14 tháng 5 năm 1945
22 tháng 11 năm 1950
6 tháng 12 năm 1949
31 tháng 7 năm 1956
Rút đăng bạ 1 tháng 6 năm 1970; Tháo dỡ 1971
Puget Sound CVE-113 12 tháng 5 năm 1944 20 tháng 9 năm 1944 18 tháng 6 năm 1945 18 tháng 10 năm 1946 Rút đăng bạ 1 tháng 6 năm 1960; Bán để tháo dỡ 10 tháng 1 năm 1962
Rendova (nguyên Mosser Bay, rồi Willamette) CVE-114 15 tháng 6 năm 1944 29 tháng 12 năm 1944 22 tháng 10 năm 1945
3 tháng 1 năm 1951
27 tháng 1 năm 1950
30 tháng 6 năm 1955
Rút đăng bạ 1 tháng 4 năm 1971; Bán để tháo dỡ 1971
Bairoko (nguyên Portage Bay) CVE-115 25 tháng 7 năm 1944 25 tháng 1 năm 1945 16 tháng 7 năm 1945
12 tháng 9 năm 1950
14 tháng 4 năm 1950
18 tháng 2 năm 1955
Rút đăng bạ 1 tháng 4 năm 1960; Bán để tháo dỡ tháng 1 năm 1961
Badoeng Strait CVE-116 18 tháng 8 năm 1944 15 tháng 2 năm 1945 14 tháng 11 năm 1945
6 tháng 1 năm 1947
20 tháng 4 năm 1946
17 tháng 5 năm 1957
Rút đăng bạ 1 tháng 12 năm 1970; Bán để tháo dỡ 8 tháng 5 năm 1972
Saidor (nguyên Saltery Bay) CVE-117 29 tháng 9 năm 1944 17 tháng 3 năm 1945 4 tháng 9 năm 1945 12 tháng 9 năm 1947 Rút đăng bạ 1 tháng 12 năm 1970; Bán để tháo dỡ 22 tháng 10 năm 1971
Sicily (nguyên Sandy Bay) CVE-118 23 tháng 10 năm 1944 14 tháng 4 năm 1945 27 tháng 2 năm 1946 4 tháng 10 năm 1954 Rút đăng bạ 1 tháng 7 năm 1960; Bán để tháo dỡ 31 tháng 10 năm 1960
Point Cruz (nguyên Trocadero Bay) CVE-119 4 tháng 12 năm 1944 18 tháng 5 năm 1945 16 tháng 10 năm 1945
26 tháng 7 năm 1951
30 tháng 6 năm 1947
31 tháng 8 năm 1956
Rút đăng bạ 15 tháng 9 năm 1970; Bán để tháo dỡ 1971
Mindoro CVE-120 2 tháng 1 năm 1945 27 tháng 6 năm 1945 4 tháng 12 năm 1945 4 tháng 8 năm 1955 Rút đăng bạ 1 tháng 12 năm 1959; Bán để tháo dỡ tháng 6 năm 1960
Rabaul CVE-121 2 tháng 1 năm 1945 14 tháng 6 năm 1945 Không nhập biên chế, đưa thẳng về Hạm đội Dự bị Không có Rút đăng bạ 1 tháng 9 năm 1971; Bán để tháo dỡ 25 tháng 8 năm 1972
Palau CVE-122 19 tháng 2 năm 1945 6 tháng 8 năm 1945 15 tháng 1 năm 1946 15 tháng 6 năm 1954 Rút đăng bạ 1 tháng 4 năm 1960; Bán để tháo dỡ 13 tháng 7 năm 1960
Tinian CVE-123 20 tháng 3 năm 1945 5 tháng 9 năm 1945 Không nhập biên chế, đưa thẳng về Hạm đội Dự bị Không có Rút đăng bạ 1 tháng 6 năm 1970; Bán để tháo dỡ 15 tháng 12 năm 1971
Bastogne CVE-124 2 tháng 4 năm 1945 Không có Hủy bỏ trước khi hạ thủy, 12 tháng 8 năm 1945
Eniwetok CVE-125 20 tháng 4 năm 1945
Lingayen CVE-126 1 tháng 5 năm 1945
Okinawa CVE-127 22 tháng 5 năm 1945
Chưa đặt tên CVE-128 cho đến CVE-131 Không có
CVE-132 cho đến CVE-139 Kaiser Shipbuilding Company, Vancouver, Washington

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]