Gridley (lớp tàu khu trục)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
USSGridleyDD380.jpg
Tàu khu trục Gridley, chiếc dẫn đầu của lớp
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi:Lớp tàu khu trục Gridley
Xưởng đóng tàu:Xưởng hải quân Boston
Bethlehem Shipbuilding Corporation:
Fore River Shipyard
Union Iron Works
Bên sử dụng:Hoa Kỳ Hải quân Hoa Kỳ
Lớp trước:lớp Mahan
Lớp sau:lớp Bagley
Thời gian đóng:1935-1938
Thời gian hoạt động:1937-1946
Hoàn tất:4
Nghỉ hưu:4
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: Lớp tàu khu trục Gridley
Kiểu: Tàu khu trục
Trọng tải choán nước: 1.590 tấn Anh (1.616 t) (tiêu chuẩn)
2.219 tấn Anh (2.255 t) (đầy tải)
Độ dài: 340 ft 10 in (103,89 m)
Sườn ngang: 35 ft 10 in (10,92 m)
Mớn nước: 12 ft 9 in (3,89 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Bethlehem
4 × nồi hơi ống nước Yarrow
2 × trục
công suất 50.000 hp (37.000 kW)
Tốc độ: 38,5 hải lý một giờ (71,3 km/h)
Tầm xa: 6.500 nmi (12.040 km; 7.480 mi) ở tốc độ 12 hải lý một giờ (22 km/h; 14 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
158
Vũ trang:

như chế tạo: 4 × pháo 5 in (130 mm)/38 caliber trên bệ Mk 21 đa dụng (5×1);
4 × súng máy Browning M2.50-caliber (4×1);

16 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×4)

Lớp tàu khu trục Gridley là một lớp bao gồm bốn tàu khu trục có trọng lượng choán nước 1.500 tấn Anh (1.500 t) được Hải quân Hoa Kỳ chế tạo vào giữa những năm 1930. Chúng đã phục vụ trong Chiến tranh Thế giới thứ hai và không có chiếc nào bị mất trong cuộc xung đột.

Hai chiếc đầu tiên của lớp được đặt lườn vào ngày 3 tháng 6 năm 1935 và nhập biên chế vào năm 1937. Hai chiếc sau được đặt lườn vào tháng 3 năm 1936 và nhập biên chế năm 1938.

Với thiết kế được dựa trên lớp tàu khu trục Mahan dẫn trước, chúng có cùng một lườn tàu nhưng chỉ có một ống khói duy nhất và trang bị 16 ống phóng ngư lôi, tăng thêm bốn ống so với trước đó. Để bù trừ trọng lượng tăng thêm của vũ khí ngư lôi, hỏa lực hải pháo được thay đổi đôi chút từ năm xuống còn bốn khẩu pháo 5 in (130 mm)/38 caliber. Hệ thống động lực cũng được nâng cấp đáng kể so với lớp Mahan, sử dụng hơi nước siêu nhiệt với nhiệt độ lên đến 700 °F (371 °C), giúp làm tăng áp suất hơi nước hoạt động từ 400 pound một inch vuông (2.800 kPa) lên 565 pound một inch vuông (3.900 kPa). Maury đã đạt được tốc độ chạy thử máy cao nhất từng được ghi nhận đối với một tàu khu trục của Hải quân Hoa Kỳ, 42,8 hải lý một giờ (79,3 km/h).[1]

Những chiếc trong lớp[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu Đặt lườn Hạ thủy Hoạt động Số phận
USS Gridley (DD-380) 3 tháng 6 năm 1935 1 tháng 12 năm 1936 24 tháng 6 năm 1937 Bán để tháo dỡ, 20 tháng 8 năm 1947
USS Craven (DD-382) 2 tháng 6 năm 1935 25 tháng 2 năm 1937 2 tháng 9 năm 1937 Bán để tháo dỡ, 2 tháng 10 năm 1947
USS McCall (DD-400) 17 tháng 3 năm 1936 20 tháng 11 năm 1937 22 tháng 6 năm 1938 Bán để tháo dỡ, 17 tháng 11 năm 1947
USS Maury (DD-401) 24 tháng 3 năm 1936 14 tháng 2 năm 1938 5 tháng 8 năm 1938 Bán để tháo dỡ, 13 tháng 6 năm 1946

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Gridley class destroyers tại Wikimedia Commons

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]