Benham (lớp tàu khu trục)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
USS Benham (DD-397)
Tàu khu trục Benham, chiếc dẫn đầu của lớp
Khái quát về lớp tàu
Tên gọi: Lớp tàu khu trục Benham
Xưởng đóng tàu: Federal Shipbuilding
Xưởng hải quân Boston
Xưởng hải quân Philadelphia
Xưởng hải quân Norfolk
Xưởng hải quân Charleston
Xưởng hải quân Puget Sound
Bên sử dụng: Flag of the United States (1912-1959).svg Hải quân Hoa Kỳ
Lớp trước: lớp Somers
Lớp sau: lớp Sims
Thời gian đóng: 1936-1939
Thời gian hoạt động: 1939-1946
Hoàn tất: 10
Bị mất: 2
Nghỉ hưu: 8
Đặc điểm khái quát
Kiểu: Tàu khu trục
Trọng tải choán nước: 1.500 tấn Anh (1.500 t) (tiêu chuẩn)
2.350 tấn Anh (2.390 t) (đầy tải)
Độ dài: 340 ft 9 in (103,86 m)
Sườn ngang: 35 ft 6 in (10,82 m)
Mớn nước: 13 ft 3 in (4,04 m)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Westinghouse;
3 × nồi hơi;
2 × trục;
công suất 50.000 shp (37.000 kW)
Tốc độ: 38,5 hải lý một giờ (71,3 km/h; 44,3 mph)
Tầm xa: 6.500 nmi (12.040 km; 7.480 mi) ở tốc độ 12 hải lý một giờ (22 km/h; 14 mph)
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
16 sĩ quan,
235 thủy thủ
Vũ trang:

4 × pháo 5 in (130 mm)/38 caliber (4×1);
4 × pháo phòng không Bofors 40 mm (2×2);
4 × súng máy M2 Browning;
16 × ống phóng ngư lôi 21 in (530 mm) (4×4);

2 × đường ray thả mìn sâu

Lớp tàu khu trục Benham là một lớp tàu khu trục gồm mười chiếc được Hải quân Hoa Kỳ đưa vào hoạt động trong những năm 1938-1939. Hầu hết thiết kế của chúng đều dựa trên các lớp GridleyBagley dẫn trước.

Hai chiếc trong lớp đã bị mất trong Chiến tranh Thế giới thứ hai; ba chiếc được tháo dỡ vào năm 1947, trong khi năm chiếc còn lại bị đánh đắm do đã bị nhiễm phóng xạ sau các vụ thử bom nguyên tử tại Thái Bình Dương.

Những chiếc trong lớp[sửa | sửa mã nguồn]

Tàu Đặt lườn Hoạt động Ngừng hoạt động Số phận
Benham (DD-397) 1 tháng 9 năm 1936 2 tháng 2 năm 1939 Trúng ngư lôi trong trận Hải chiến Guadalcanal, 15 tháng 11 năm 1942; bị Gwin đánh đắm[1]
Ellet (DD-398) 3 tháng 12 năm 1936 17 tháng 2 năm 1939 29 tháng 10 năm 1945 Bán để tháo dỡ, 1 tháng 8 năm 1947
Lang (DD-399) 5 tháng 4 năm 1937 30 tháng 3 năm 1939 16 tháng 10 năm 1945 Bán để tháo dỡ, 31 tháng 10 năm 1947
Mayrant (DD-402) 15 tháng 4 năm 1937 13 tháng 9 năm 1939 28 tháng 8 năm 1946 Hư hại do thử nghiệm bom nguyên tử tại đảo san hô Bikini, tháng 7 năm 1946. Đánh chìm như một mục tiêu, 4 tháng 4 năm 1948
Trippe (DD-403) 15 tháng 4 năm 1937 1 tháng 11 năm 1939 28 tháng 8 năm 1946 Hư hại do thử nghiệm bom nguyên tử tại đảo san hô Bikini, tháng 7 năm 1946. Đánh chìm như một mục tiêu, 3 tháng 2 năm 1948
Rhind (DD-404) 22 tháng 9 năm 1937 10 tháng 11 năm 1939 26 tháng 8 năm 1946 Hư hại do thử nghiệm bom nguyên tử tại đảo san hô Bikini, tháng 7 năm 1946. Đánh chìm như một mục tiêu, 22 tháng 3 năm 1948
Rowan (DD-405) 25 tháng 6 năm 1937 23 tháng 9 năm 1939 Đắm do trúng ngư lôi từ tàu E-boat Đức giữa SalernoOran, 11 tháng 9 năm 1943
Stack (DD-406) 25 tháng 6 năm 1937 20 tháng 11 năm 1939 29 tháng 8 năm 1946 Hư hại do thử nghiệm bom nguyên tử tại đảo san hô Bikini, tháng 7 năm 1946. Đánh chìm như một mục tiêu, 24 tháng 4 năm 1948
Sterett (DD-407) 2 tháng 12 năm 1936 15 tháng 8 năm 1939 2 tháng 11 năm 1945 Bán để tháo dỡ, 10 tháng 8 năm 1947
Wilson (DD-408) 22 tháng 3 năm 1937 5 tháng 7 năm 1939 29 tháng 8 năm 1946 Hư hại do thử nghiệm bom nguyên tử tại đảo san hô Bikini, tháng 7 năm 1946. Đánh chìm như một mục tiêu, 8 tháng 3 năm 1948

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Lenton, H. T. American Fleet and Escort Destroyers (New York: Doubleday, 1973), Volume 1, p.62.

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Phương tiện liên quan tới Benham class destroyers tại Wikimedia Commons

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]