Khỉ Aye-aye

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Khỉ Aye-aye
Wild aye aye.jpg
Tình trạng bảo tồn
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Animalia
Ngành (phylum) Chordata
Lớp (class) Mammalia
Bộ (ordo) Primates
Họ (familia) Daubentoniidae
Gray, 1863
Chi (genus) Daubentonia
(É. Geoffroy, 1795)[2]
Phạm vị phân bố củaDaubentonia madagascariensis[1]
Phạm vị phân bố của
Daubentonia madagascariensis[1]
Các loài
Danh pháp đồng nghĩa

Họ:

  • Cheiromyidae I. Geoffroy St. Hilaire, 1851
  • Chiromyidae Bonaparte, 1850

Chi:

  • Aye-aye Lacépède, 1799
  • Cheiromys G. Cuvier, 1817
  • Cheyromys É. Geoffroy, 1803
  • Chiromys Illiger, 1811
  • Myslemur Anon. [?de Blainville], 1846
  • Myspithecus de Blainville, 1839
  • Psilodactylus Oken, 1816
  • Scolecophagus É. Geoffroy, 1795

Loài:

  • daubentonii Shaw, 1800
  • laniger G. Grandidier, 1930
  • psilodactylus Schreber, 1800
Bộ xương

Aye-aye (Daubentonia madagascariensis) là một loài vượn cáo, bản địa Madagascar với hàm răng giống gặm nhấm có thể mọc dài ra suốt đời[3] và ngón giữa dài một cách đặc biệt.

Đây là loài linh trưởng sống về đêm[4] lớn nhất thế giới, và đặc trưng bởi cách thức kiếm ăn riêng biệt; nó gõ vào một thân cây để tìm ấu trùng, rồi dùng răng cửa nghiêng để tạo một cái lỗ rồi dùng ngón giữa dài để kéo ấu trùng ra. Loài động vật duy nhất khác dùng cách này để kiếm mồi là Dactylopsila trivirgata (một loài thú có túi).[5] Từ quan điểm sinh thái học, aye-aye đóng vai trò của chim gõ kiến, do nó có thể nhận biệt được sinh vật nằm bên trong gỗ.[6][7]

Aye-aye là loài duy nhất còn tồn tại của chi Daubentoniahọ Daubentoniidae. Nó hiện được xem là một loài bị đe dọa bởi IUCN. Loài thứ hai, Daubentonia robusta đã tuyệt chủng cách đây 1000 năm.[8]

Tên[sửa | sửa mã nguồn]

Daubentonia được Étienne Geoffroy Saint-Hilaire theo tên tên thầy giáo mình, là nhà tự nhiên học người Pháp Louis-Jean-Marie Daubenton, năm 1795. Ban đầu Geoffroy sử dụng tên gốc Hy Lạp Scolecophagus ("[thú] ăn giun") để chỉ hành vi ăn uống của nó, nhưng rồi quyết định không đặt tên này vì lúc đó vẫn chưa chắc chắn về hành vi của chúng và có thể còn các loài liên quan chưa được phát hiện ra.[9] Năm 1863, nhà động vật học người Anh John Edward Gray đặt ra tên họ Daubentoniidae.[10]

Nhà tự nhiên học người Pháp Pierre Sonnerat là người đầu tiên dùng tên thông thường "aye-aye" năm 1782 khi ông mô tả và minh họa loài này, dù nó cũng được gọi là "long-fingered lemur" (vượn cáo ngón tay dài) bởi nhà tự nhiên học người Anh George Shaw năm 1800. Theo Sonnerat, cái tên "aye-aye" là một "cri d'exclamation & d'étonnement" (âm thanh của tiếng kêu và sự kinh ngạc). Tuy nhiên, nhà cổ nhân loại học người Mỹ Ian Tattersall ghi nhận vào năm 1982 rằng cái tên này làm liên tưởng đến từ "hai hai" hoặc "hay hay" trong tiếng Malagasy. Theo Dunkel et al. (2012), sự phổ biến của tên tiếng Malagasy này cho thấy "aye-aye" không thể do Sonnerat nghĩ ra. Một giả thuyết khác đề xuất bởi Simons và Meyers năm 2001 là rằng nó bắt nguồn từ "heh heh", trong tiếng Malagasy nghĩa là "tôi không biết". Nếu đúng, tên này nhiều khả năng do người Malagasy nói "heh heh" để tránh nhắc đến tên của sinh vật mà họ cho là huyền bí này.[9]

Lịch sử tiến hóa và phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Do những đặc điểm hình thái, việc phân loại aye-aye từng có vấn đề không thống nhất lúc mới phát hiện. Bộ răng cửa mọc dài vĩnh viễn tương tự của động vật gậm nhấm, đã khiến những nhà tự nhiên học phân loại sai aye-aye như một loài thuộc bộ Gậm nhấm.[11] Tuy nhiên, aye-aye cũng có nét tương tự các loài họ Mèo (hình dạng đầu, mắt, tai, và lỗ mũi).[12]

Vị trí của aye-aye trong bộ Linh trưởng cũng không chắc chắn. Nó từng được xem là một thành viên của họ Indridae, một họ cơ sở của phân bộ Strepsirrhini.[13] Năm 1931, Anthony và Coupin xếp aye-aye vào phân thứ bộ Chiromyiformes, một nhóm chị em với các loài Strepsirrhini khác. Colin Groves ủng họ phân loại này năm 2005 vì ông cho rằng aye-aye tạo nên một nhánh với các loài vượn cáo còn lại của Madagascar,[14] nghiên cứu di truyền đã cho thấy Daubentoniidae là một nhóm cơ sở cho toàn Lemuriformes,[13] và tất cả vượn cáo xuất phát từ một tổ tiên chung trôi dạt đến Madagascar vào khoảng Paleocene hay Eocene. Năm 2008, Russell Mittermeier, Colin Groves, và đồng nghiên cùng nhau phân loại và định nghĩa bộ Vượn cáo là một nhóm đơn ngành và có năm họ còn tồn tại đến nay, gồm cả Daubentoniidae. [15]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă “Daubentonia madagascariensis”. Sách đỏ IUCN các loài bị đe dọa. Phiên bản 2014.1. Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế. 2012. Truy cập ngày 12 tháng 6 năm 2014. 
  2. ^ Wilson, D. E.; Reeder, D. M. biên tập (2005). “Daubentonia”. Mammal Species of the World . Baltimore: Nhà in Đại học Johns Hopkins, 2 tập (2.142 trang). ISBN 978-0-8018-8221-0. OCLC 62265494. 
  3. ^ Petter, J; Albignac, R; Rumpler, Y (1977). “Primates Prosimiens”. ORSTOM. 
  4. ^ “Aye-Aye Daubentonia madagascariensis”. National Geographic. Truy cập ngày 18 tháng 5 năm 2010. 
  5. ^ Sterling 2003, tr. 1348.
  6. ^ Piper, Ross (2007). Extraordinary Animals: An Encyclopedia of Curious and Unusual Animals. Greenwood Press. 
  7. ^ Beck 2009, tr. ??.
  8. ^ Nowak 1999, tr. 533–534.
  9. ^ a ă Dunkel, A.R.; Zijlstra, J.S.; Groves, C.P. (2011–2012). “Giant rabbits, marmosets, and British comedies: etymology of lemur names, part 1” (PDF). Lemur News 16: 64–70. ISSN 1608-1439. 
  10. ^ Groves 2005.
  11. ^ Ankel-Simons 2007, tr. 257.
  12. ^ “The Aye-Ayes or Cheiromys of Madagascar”. Science 2 (75): 574–576. 3 tháng 11 năm 1881. doi:10.1126/science.os-2.76.574. 
  13. ^ a ă Yoder, Vilgalys & Ruvolo 1996, tr. ??.
  14. ^ Groves 2005, tr. 121.
  15. ^ Mittermeier và đồng nghiệp 2008, tr. ??.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]