Kyoukai no Kanata

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Kyoukai no Kanata
Kyōkai no Kanata bia tap 1.jpg
Bìa tập một của light novel gồm hai nhân vật Mirai (trái) và Akihito (phải)
境界の彼方
(Kyōkai no Kanata)
Thể loạiKỳ ảo u tối,[1] lãng mạn kị sĩ, siêu nhiên[2]
Light novel
Tác giảTorii Nagomu
Minh họaKamoi Tomoyo
Nhà xuất bảnKyoto Animation
Ấn hiệuKA Esuma Bunko
Đăng tải9 tháng 6 năm 201218 tháng 12 năm 2013
Số tập3 (danh sách tập)
Anime truyền hình
Đạo diễnIshidate Taichi
Sản xuấtTanaka Gou
Senami Riri
Saitō Shigeru
Nakamura Shinichi
Kịch bảnHanada Jukki
Âm nhạcNanase Hikaru
Hãng phimKyoto Animation
Cấp phép
Hanabee
Animatsu Entertainment
Kênh gốcTBS, Tokyo MX, TVA, ABC, BS11, Animax
Kênh khác
Phát sóng 2 tháng 10 năm 2013 18 tháng 12 năm 2013
Thời lượng / tập24 phút
Số tập12 (danh sách tập)
ONA
Kyoukai no Kanata Aidoru Saiban!
(きょうかいのかなた アイドル裁判!?)
Đạo diễnIshidate Taochi
Kịch bảnHanada Jukki
Hãng phimKyoto Animation
Cấp phép
Phát hành 18 tháng 11 năm 2013 2 tháng 7 năm 2014
Thời lượng / tập
  • Tập 1 (7 phút)
  • Tập 2 (6 phút)
  • Tập 3 (6 phút)
  • Tập 4 (5 phút)
  • Tập 5 (6 phút)
    Tổng: 29 – 30 phút
Số tập5 (danh sách tập)
OVA
Kyoukai no Kanata: Shinonome
(境界の彼方 #0「東雲」?)
Đạo diễnIshidate Taichi
Kịch bảnHanada Jukki
Âm nhạcNanase Hikaru
Hãng phimKyoto Animation
Cấp phép
Phát hành2 tháng 7 năm 2014
Thời lượng / tập23 phút
Số tập1 (danh sách tập)
Phim anime
Kyoukai no Kanata: -ILL BE HERE- Kako-hen
(境界的彼方-ILL BE HERE- 過去篇?)
Đạo diễnIshidate Taichi
Kịch bảnHanada Jukki
Âm nhạcIto Masumi
Hãng phimKyoto Animation
Cấp phép
Animatsu Entertainment
Công chiếu14 tháng 3 năm 2015
Thời lượng82 phút
Phim anime
Kyoukai no Kanata: -ILL BE HERE- Mirai-hen
(劇場版 境界の彼方-ILL BE HERE-未来篇?)
Đạo diễnIshidate Taichi
Kịch bảnHanada Jukki
Âm nhạcNanase Hikaru
Hãng phimKyoto Animation
Cấp phép
Animatsu Entertainment
Công chiếu25 tháng 4 năm 2015
Thời lượng90 phút
Chủ đề Anime và manga

Kyoukai no Kanata (境界の彼方 (Cảnh giới Bỉ phương) Kyōkai no Kanata?, dịch: Bên kia Ranh giới) là một bộ light novel viết bởi Torii Nagomu và minh họa do Tomoyo Kamoi thực hiện. Câu chuyện kể về Akihito – một nam sinh trung học mang dòng máu nửa người ác quái, và nữ sinh Mirai – một thợ săn linh hồn. Kyoto Animation đã phát hành ba tập từ năm 2012. Bản anime được sản xuất bởi Kyoto Animation, phát sóng tại Nhật Bản từ tháng 10 đến tháng 12 năm 2013. Một tập OVA được phát nào năm 2014. Hai phần phim anime dài được công chiếu vào tháng 3 và tháng 4 năm 2015.

Cốt truyện[sửa | sửa mã nguồn]

Kanbara Akihito, một học sinh trung học năm hai, vào chiều một ngày bắt gặp một học sinh cùng trường, Kuriyama Mirai, đang có ý muốn tự tử. Dù đã ngăn can nhưng không thể phản ứng kịp nhát kiếm bằng máu mà Mirai đã đâm vào cậu, Mirai đã sốc khi biết được Akihito là "nửa người nửa youmu" – những tạo vật siêu nhiên mang bình dáng của quỷ. Sau khi Akihito biết cô là một Thợ săn linh hồn 異界士 (Dị Giới Sĩ Ikaishi?) — những người bảo vệ con người khỏi bị youmu nhập thể, cậu cũng chú ý rằng Mirai là người cuối cùng còn sống trong gia tộc thợ săn của mình. Cuộc sống của cả hai thay đổi nhiều diễn biến khi Akihito giúp Mirai tin tưởng cô có thể giết được youma, mà không phải lấy thân thể cậu ra làm thứ để tập luyện.

Youmu 妖夢 (Yêu Mộng yōmu?) là những vật thể siêu nhiên xuất hiện suốt cả câu chuyện, những người có khả năng siêu nhiên mới có thể thấy chúng còn người thường không thể. Youmu là sinh vật tạo hóa từ nỗi thù ghét của con người như những cảm xúc tiêu cực thù hận, ghen tuông và ác ý,... bởi do đó, con người tồn tại là youmu vẫn còn tồn tại. Chúng tồn tại ở nhiều dạng, thậm chí ở hình dạng con người, nhưng những youmu ở dạng con người không hề xấu. Đôi khi một con người và một youmu có thể sinh ra con của họ, mà được gọi là "nửa-youmu" 半妖 (Bán Yêu Han-Yō?). Hầu hết các youmu đều không nguy hiểm, chúng cùng sống với con người đến mức không thấy sự hiện diện của họ. Tuy vậy, cũng có những youmu muốn tấn công con người, nên các thợ săn linh hồn phải giết chúng. Khi chết, youmu sẽ biến thành Đá Youmu 妖夢石 (Yêu Mộng Thạch Yōmu Ishi?), những thợ săn chiến binh có thể đem chúng đi thẩm định và giao dịch để kiếm nguồn thu nhập cho họ.

Nhân vật[sửa | sửa mã nguồn]

Chính[sửa | sửa mã nguồn]

Kanbara Akihito (Thần Nguyên Thu Nhân 神原 秋人?)
Lồng tiếng: KENN, Tanaka Mei (vai lúc nhỏ)
Akihito là học sinh trung học năm hai, với mái tóc vàng ngắn, mang thân phận một nửa người nửa youmu có thể bất tử. Cậu có khả năng hồi phục vết thương nhanh chóng từ bất kỳ cơn đau đớn nào. Do đó, Mirai sử dụng cậu như một tấm bia để luyện tập vượt qua nỗi sợ giết youmu. Akihito là thành viên của Câu lạc bộ văn học ở trường. Cậu hấp dẫn với những cô gái đeo kính, mà được gọi là chứng "hấp dẫn kính". Nếu cơ thể của Akihito suy yếu nghiêm trọng, một nửa youmu trong cậu sẽ tỉnh giấc và thoát ra ngoài, biến cơ thể cậu thành diện mạo của một con ác quỷ gớm ghiếc và dễ nổi điên. Nửa youmu của Akihito có sức mạnh to lớn trong các loại youmu, có thể phá đảo các lồng và rào cản cố ngăn chặn nó ra ngoài hủy diệt bất cứ thứ gì. Akihito ngụ ý vì một nửa youmu của mình, những người bạn của cậu được giao nhiệm vụ theo dõi cậu đề phòng trường hợp nửa youmu kia trở nên quá điên loạn và giết mình ngay cần thiết.
Kuriyama Mirai (Lật San Vị Lai 栗山 未来?)
Lồng tiếng: Taneda Risa
Mirai là học sinh trung học năm nhất với mái tóc ngắn màu hồng nhạt kiểu bồng bềnh, đeo một chiếc kính gọng đỏ, cô thường được Akihito gọi là "người đẹp đeo kính", khiến cô hay mất tinh thần. Mirai có khả năng điều khiển máu, là duy nhất ngay cả trong phạm vi của Thế giới Linh hồn. Việc lạm dụng quá khả năng dẫn đến việc thiếu máu trầm trọng, đồng thời nó khiến cô bị cô lập và một lần từng cố gắng tự tử khi nhảy từ mái trường. Cô có nhiệm vụ giết Akihito nhưng cuối cùng lại nuôi dưỡng tình cảm với cậu. Cô thường bị chế giễu do liên tục đăng những bài về nỗi bất hạnh trong cuộc sống của trên blogTwitter. Cô thường nói từ "Thật khó chịu" (「不愉快です」 "Fuyukai desu"?) hầu hết ở mọi tình huống, đặc biệt Akihito về cô. Dù có dòng máu của một gí tộc bị nguyền rủa, Mirai được gia tộc khác là Inami nhận nuôi và kết bạn với cô con gái út của họ, Inami Yui, nhưng giờ đây cô đã bị ám ảnh sau khi hạ sát người bạn thân của mình khi Yui bị "Cái bóng trống rỗng" nhập phải, việc giết chóc đã trở thành hành động cô ghét bỏ. Vũ khí của Mirai là một thanh kiếm màu đỏ yên chi[a] hình thành từ máu của cô.
Nase Mitsuki ( Danh Lại Mĩ Nguyệt?, 名瀬 美月)
Lồng tiếng: Chihara Minori
Mitsuki là học sinh năm hai trung học với mái tóc đen mượt. Cô là em gái út của Hiroomi và Izumi trong gia đình họ Nase và và Chủ tịch Câu lạc bộ văn học. Cô thích trêu chọc Akihito, chẳng hạn như tự xưng là bạn thời thơ ấu của cậu. Mitasuki từng gọi anh trai mình là "kẻ hư hỏng" hoặc "aniki" (anh trai đáng kính), cô thực sự ngưỡng mộ yêu mến anh. Gia tộc của cô cai quản các Thợ săn linh hồn trong khu vực của họ. Izumi tin rằng các thợ săn phải ở một mình suốt đời do nhiệm vụ của họ, do đó dẫn đến hậu quả họ bị thiếu kinh nghiệm để hình thành cùng với những người bạn đồng trang lứa. Cô có một youmu loài gặm nhấm với cái tên "Yakiimo". Giống như anh trai mình, Mitsuki có thể tạo ra lồng cản.
Nase Hiroomi (Danh Lại Bác Thần 名瀬 博臣?)
Lồng tiếng: Suzuki Tatsuhisa, Sakura Ayane (vai lúc nhỏ)
Hiroomi là học sinh trung học năm ba, anh trai của Mitsuki và em Izumi. Cậu có mái tóc đen cắt bát và lúc nào cũng đeo khăn quàng cổ. Hiromii là một thành viên Câu lạc bộ văn học. Cậu ngưỡng mộ em gái mình và đôi khi thích được gọi là "Onii-chan", cậu có thói quen trêu chọc Akihito và thích gọi tên "Akkey". Hiroomi thành thạo việc thiết lập các lồng và rào cản ngăn youmu vào khu vực được bảo vệ. Khả năng của chính mình khiến cậu cực kỳ nhạy cảm với cái lạnh, cậu phải liên tục đeo khăn quàng cổ và thường làm ấm ngón tay. Lưng của cậu bị sẹo nghiêm trọng do từng khống chế youmu của Akihito.

Phụ[sửa | sửa mã nguồn]

Thợ săn linh hồn[sửa | sửa mã nguồn]

Nase Izumi (Danh Lại Tuyền 名瀬 泉?)
Lồng tiếng: Kawasumi Ayako
Là con gái lớn của gia tộc Nase và là chị cả của Hiromii, Mitsuki. Cô thường có thái độ bình tĩnh dù mang vẻ ngoài khá hiểm độc. Cô có quan niệm rằng youmu không khác gì cây trồng hay vật nuôi và chỉ là thứ để cung cấp thu nhập cho gia tộc cô. Giống như gia tộc mình, Izumi thành thạo việc thiết lập lồng hay rào cản. Cô sở hữu một loại vũ khí là ngọn giáo và có thể biến ra hai đầu khi cần thiết, khả năng thứ hai của cô là đóng băng mọi thứ. Bản thân cô có một youmu trong cơ thể và từng quen biết Miroku.
Kanbara Yayoi (Thần Nguyên Di Sanh 神原 弥生?)
Lồng tiếng: Konno Hiromi
Mẹ của Akihito và là một Thợ săn kinh hồn. Cô thường đi du lịch và gửi bưu thiếp cho Akihito để kiểm tra cậu thường xuyên. Akihito nhận xét cô là một người kỳ quặc và khác người bởi những hành động trẻ con thường làm cậu mất mặt; như mặc bộ đồ mèo hay trong một lần ngày phụ huynh ở trường tiểu học mà Akihito học, cô đã mặc bộ đồ gấu trúc khi vào lớp.
Ninomiya Shizuku (Nhị Cung Giọt 二ノ宮 雫?)
Lồng tiếng: Watanabe Akeno
Một thợ săn linh hồn chuyên nghiệp. Cô thường được gọi là "Nino-san", cô có công việc làm giáo viên tại trường trung học Nagatsuki ngoài việc săn lùng linh hồn. Mặc cho vẻ đẹp của mình, cô luôn bị đàn ông từ chối.
Fujima Miroku (Đằng Chân Di Lặc 藤真 弥勒?)
Lồng tiếng: Matsukaze Masaya
Là người thẩm vấn từ Hội Thợ săn linh hồn, có công việc đến từng gia đình thợ săn minh hồn để thu thập và giữ bí mật thông tin về họ. Miroku có thể giết chết một youmu ngay lập tức bằng cách tập trung vào nó. Anh chứa một youmu trong người mình, giúp anh có những khả năng đặc biệt.
Shindō Ayaka (Tân Đường Thái Hoa 新堂 彩華?)
Lồng tiếng: Shindō Naomi
Một thẩm định viên youmu và là thợ săn linh hồn. Cô có việc thẩm định và giao dịch những viên Đá Youmu mà thợ săn linh hồn tìm được, và đồng thời trả tiền cho thu nhập của họ. Cô có cửa hàng bán ảnh cho con người; hình dạng thật của cô là một con youmu nhiều đuôi nhưng cô phải thường ngụy trang thành người để thực hiện được công việc. Cô cũng có khả năng thiết lập lồng và rào chắn.

Khác[sửa | sửa mã nguồn]

Shindō Ai (Tân Đường Ái 新堂 愛?)
Lồng tiếng: Yamaoka Yuri
Nhân vật chỉ xuất hiện trong anime, Ai là em gái 16 tuổi của Ayaka, người trông coi cửa hàng khi Ayaka vắng mặt. Cô là một youmu mèo, có khả năng hóa thành dạng người.
Inami Yui (Y Ba Dụy 伊波 唯?)
Lồng tiếng: Yahagi Sayuri
Con gái quá cố của tộc Inami, chị của Sakura. Cô là người đối xử tốt và là bạn thân đối với Mirai khi còn nhỏ, nhưng sau đó cô đã bị Mirai sát hại khi bị Cái bóng trống rỗng nhập phải.
Inami Sakura (Y Ba Anh 伊波 桜?)
Lồng tiếng: Toyota Moe
Nhân vật chỉ xuất hiện trong anime, Sakura là em gái của Inami Yui. Cô ghét Mirai vì đã sát hại Yui và cố giết Mirai để trả thù, nhưng cô nhận ra mình cũng có cảm xúc giống Mirai và tha thứ cho cô. Cô đôi lúc khá lười. Sakura không phải một thợ săn linh hồn cũng như không có năng lực gì, cô sở hữu một cây giáo với nòng súng của Miroku có thể hấp thụ sức mạnh của đá youmu để nâng cấp.
Minegishi Maya (Phong Ngạn Vũ Gia 峰岸 舞耶?)
Một cô gái tóc bạc bị truy đuổi trong suốt sự kiện giết chóc của Thợ săn linh hồn. Vũ khí của cô là một khẩu súng ngắn tự động và súng ngắn ổ xoay. Cô có sức mạnh của một thẩm sát viên. Maya từng quen biết Miroku và có vấn đề với anh trong quá khứ.
Ichinomiya Iori (Nhất Cung Am 一ノ宮 庵?)
Người thu thập thông tin. Anh có khả năng liên kết não bộ đến Internet để thu nhập thông tin.
Shinozaki Kana (Tiểu Khi Hạ Thái 篠崎 夏菜?)
Học sinh trung học năm hai. Cô đeo một cái kẹp tóc hình tai thỏ lớn. Câu cửa miệng của cô là "Hey!".
Mashiro Yuto (Chân Thành Ưu Đẩu 真城 優斗?)
Người bạn thuở nhỏ của Mirai. Cậu có khả năng múa rối và thao túng youmu loại thấp.
Kusunoki Ukyo (Nam Mộc Hữu Kinh 楠木 右京?)
Một thẩm sát viên.
Nagamizu Kikyō (Vĩnh Thủy Kết Ngạnh 永水 桔梗?)
Một thẩm sát viên. Cô có khả năng điều khiển trọng lượng của vật thể.

Truyền thông[sửa | sửa mã nguồn]

Light novel[sửa | sửa mã nguồn]

Kyoukai no Kanata là bộ light novel viết bởi Torii Nagomu, với phần minh họa thực hiện bởi Ramoi Tomoyo. Torii đã đưa tập đầu tiên của light novel đến cuộc thi Kyoto Animation Award năm 2011, và thắng giải danh dự trong hạng mục novel.[3] Kyoto Animation sau đó đã phát hành tập đầu tiên vào năm 2012, với tổng cộng ba tập tính tới 2 tháng 10 năm 2013.

#Ngày phát hành ISBN
1 9 tháng 6 năm 2012[4]ISBN 978-4-9905812-4-4
2 8 tháng 4 năm 2013[4]ISBN 978-4-907064-04-4
3 2 tháng 10 năm 2013[4]ISBN 978-4-907064-07-5

Anime[sửa | sửa mã nguồn]

Logo của Kyoukai no Kanata
Bìa đĩa Blu-ray của bộ anime phát hành bởi Pony Canyon, gồm 12 tập gốc, 1 OVA và 5 ONA

Bản anime truyền hình được chuyển thể và sản xuất bởi Kyoto Animation, do Ishidate Taichi đạo diễn với thời gian công chiếu bắt đầu từ 2 tháng 10 năm 2013.[5] Ca khúc chủ đề mở đầu là "Kyōkai no Kanata" (境界の彼方?) do Chihara Minori biểu diễn và ca khúc chủ đề kết thúc là "Daisy" hát bởi Stereo Dive Foundation.[6] Crunchyroll đồng thời cũng phát bộ anime.[7] Sentai Filmworks đã cấp phép ở Bắc Mỹ cho streaming và home video vào 2015.[8] Ba tập ONA của một bộ ngắn cùng anime tên Kyōkai no Kanata: Aidoru Saiban! (「きょうかいのかなた アイドル裁判!?) được phát từ tháng 11 đến tháng 12 năm 2013 thông qua YouTube.[9], hai tập tiếp theo được phát dưới dạng đĩa DVDBlu-ray cùng với ba tập đầu vào 2 tháng 7 năm 2014 dưới mạng lưới của Tokyo MX.[10][11]

Phim anime dài Gekijōban Kyōkai no Kanata: -ILL BE HERE- (劇場版 境界的彼方-ILL BE HERE-?) cũng được sản xuất bởi Kyoto Animation và do Ishidate Taichi đạo diễn. Phim có hai phần của "-ILL BE HERE-", đầu tiên là Kako-hen (過去篇?), được phát vào 14 tháng 3 năm 2015 và sử dụng lại ca khúc "Daisy", thứ hai là Mirai-hen (未来篇?), được phát vào 25 tháng 4 năm 2015 với ca khúc chủ đề "Aitakatta Sora" (会会いたかった空?) của Chihara. Kako-hen kể lại sự kiện của bộ anime, Mirai-hen kể về sự kiện sau một năm của thời điểm gốc.[12] Sentai Filmworks cũng cấp phép cho hai phần phim ở Bắc Mỹ[13] và Animatsu Entertainment cấp phép ở nước Anh.[14]

Danh sách tập phim[sửa | sửa mã nguồn]

Anime gốc[sửa | sửa mã nguồn]
STT Tên[b]
(dịch và gốc)
Đạo diễn Đạo diễn diễn họa Ngày phát sóng gốc[c] Tham
khảo
1 "Màu đỏ son
>Carmine"
"カーマイン (Kāmain?)"
Ishidate TaichiKadowaki Miku2 tháng 10, 2013 (2013-10-02)[18][19]
2 "Màu xanh biếc
>Ultramarine"
"群青 (Gunjō?)"
Takemoto YasuhiroNaitō Nao9 tháng 10, 2013 (2013-10-09)[18][20]
3 "Ánh trăng đỏ tía
>Moonlight Purple"
"ムーンライトパープル (Mūnraito Pāpuru?)"
Kitanohara NoriyukiIkeda Shoko16 tháng 10, 2013 (2013-10-16)[18][21]
4 "Màu cam đắng cay
>Bitter Orange"
"橙 (Daidai?)"
Takemoto YasuhiroUeno Chiyoko23 tháng 10, 2013 (2013-10-23)[18][22]
5 "Ánh sáng màu lục nhạt
>Chartreuse Light"
"萌黄の灯 (Moegi no Akari?)"
Yamada NaokoNaitō Nao30 tháng 10, 2013 (2013-10-30)[18][23]
6 "Màu hồng sửng sốt
>Shocking Pink"
"ショッキングピンク (Shokkingu Pinku?)"
Ogawa TaiichiMaruki Nobuaki6 tháng 11, 2013 (2013-11-06)[18][24]
7 "Màu xám u ám
>Color of Clouds"
"曇色 (Donshoku?)"
Kitanohara NoriyukiIkeda Shoko13 tháng 11, 2013 (2013-11-13)[18][25]
8 "Golden thời điểm yên bình
>Calming Gold"
"凪黄金 (Nagi Ōgon?)"
Ōta RikaHoriguchi Yukiko20 tháng 11, 2013 (2013-11-20)[18][26]
9 "Cây tre bạc
>Silver Bamboo"
"銀竹 (Ginchiku?)"
Kawanami EisakuHikiyama Kayo27 tháng 11, 2013 (2013-11-27)[18][27]
10 "Thế giới màu trắng
>White World"
"白の世界 (Shiro no Sekai?)"
Takemoto YasuhiroUeno Chiyoko4 tháng 12, 2013 (2013-12-04)[18][28]
11 "Thế giới màu đen
>Black World"
"黒の世界 (Kuro no Sekai?)"
Miyoshi IchirouNaitō Nao11 tháng 12, 2013 (2013-12-11)[18][29]
12 "Thế giới màu xám
>Grey World"
"灰色の世界 (Haiiro no Sekai?)"
Ogawa TaiichiKadowaki Miku18 tháng 12, 2013 (2013-12-18)[18][30]
OVA[sửa | sửa mã nguồn]
Kyoukai no Kanata: Shinonome
(境界の彼方 #0「東雲」??)
STT Tên
(dịch và gốc)
Đạo diễn Đạo diễn diễn họa Ngày phát sóng gốc Tham
khảo
0[d] "Rạng đông[e]
>Daybreak"
"東雲 (Shinonome?)"
??2 tháng 7, 2014 (2014-07-02)[31]
ONA[sửa | sửa mã nguồn]
Kyoukai no Kanata Aidoru Saiban!
(きょうかいのかなた アイドル裁判?)
STT Tên Phân cảnh Ngày phát sóng gốc Tham khảo
1
"Mayoi Nagara mo Kimi o Sabaku Tami #1 (~迷いながらも君を裁く民~ #1?)"
Ishidate Taichi18 tháng 11, 2013 (2013-11-18)[32]
2
"Mayoi Nagara mo Kimi o Sabaku Tami #2 (~迷いながらも君を裁く民~ #2?)"
Utsumi Hiroko2 tháng 12, 2013 (2013-12-02)[32]
3
"Mayoi Nagara mo Kimi o Sabaku Tami #3 (~迷いながらも君を裁く民~ #3?)"
Utsumi Hiroko16 tháng 12, 2013 (2013-12-16)[32]
4
"Mayoi Nagara mo Kimi o Sabaku Tami #4 (~迷いながらも君を裁く民~ #4?)"
?2 tháng 7, 2014 (2014-07-02)[32]
5
"Mayoi Nagara mo Kimi o Sabaku Tami #5 (~迷いながらも君を裁く民~ #5?)"
?2 tháng 7, 2014 (2014-07-02)[32]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Kyoto Animation's Beyond the Boundary Gets Web Anime Shorts”. Anime News Network. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2019. 
  2. ^ “Beyond the Boundary”. Sentai Filmworks. Truy cập ngày 29 tháng 4 năm 2019. 
  3. ^ “No Grand Prizes Given for 2nd Kyoto Animation Award”. Anime News Network. 12 tháng 5 năm 2011. Truy cập 29 tháng 4 năm 2019. 
  4. ^ a ă â “Kyokai no Kanata/Product/Novel”. Kyōkai no Kanata Production Committee (bằng tiếng Nhật). Kyoto Animation. Bản gốc lưu trữ 12 tháng 10 năm 2013. Truy cập 29 tháng 4 năm 2019. 
  5. ^ “Kyoto Animation Outlines Kyōkai no Kanata TV Anime”. Anime News Network. 5 tháng 8 năm 2013. Truy cập 29 tháng 4 năm 2019. 
  6. ^ “Kyōkai no Kanata TV Anime's 1st Promo Video Reveals Cast, Musicians”. Anime News Network. Truy cập 29 tháng 4 năm 2019. 
  7. ^ “Crunchyroll to Stream Fantasy Anime Beyond the Boundary. Anime News Network. 1 tháng 10 năm 2013. Truy cập 29 tháng 4 năm 2019. 
  8. ^ “Sentai Filmworks Licenses Beyond the Boundary Anime”. Anime News Network. 11 tháng 10 năm 2013. Truy cập 29 tháng 4 năm 2019. 
  9. ^ “Kyoto Animation's Beyond the Boundary Gets Web Anime Shorts”. Anime News Network. Ngày 12 tháng 11 năm 2013. Truy cập 29 tháng 4 năm 2019. 
  10. ^ Beyond the Boundary Blu-ray/DVD to Include Episode 0”. Anime News Network. 24 tháng 3 năm 2014. Truy cập 29 tháng 4 năm 2019. 
  11. ^ “『境界の彼方』新作エピソー...: ニュース”. Kyoto Animation. Truy cập 29 tháng 4 năm 2019. 
  12. ^ “Beyond the Boundary Teaser Reveals 2 Films Opening in Spring”. Anime News Network. 28 tháng 11 năm 2014. Truy cập 29 tháng 4 năm 2019. 
  13. ^ “Sentai Filmworks Licenses Tamako Market, Chunibyō, Beyond the Boundary Anime Films”. Anime News Network. 31 tháng 3 năm 2017. Truy cập 29 tháng 4 năm 2019. 
  14. ^ “Manga Entertainment/Animatsu Acquisitions”. Anime News Network. 29 tháng 10 năm 2016. Truy cập 29 tháng 4 năm 2019. 
  15. ^ “Kyoukai no Kanaga”. Zing TV. 
  16. ^ Beyond the Boundary - Hanabee”. Hanabee Entertainment. Bản gốc lưu trữ 6 tháng 9 năm 2014. Truy cập 30 tháng 4 năm 2019. 
  17. ^ “放送情報 TVアニメ『境界の彼方』公式サイト” (bằng tiếng Nhật). Kyoto Animation. Bản gốc lưu trữ 12 tháng 10 năm 2013. Truy cập 29 tháng 4 năm 2019. 
  18. ^ a ă â b c d đ e ê g h i “TOKYO MX * 「境界の彼方」” (bằng tiếng Nhật). Tokyo MX. Bản gốc lưu trữ ngày 18 tháng 1 năm 2014. Truy cập 29 tháng 4 năm 2019. 
  19. ^ “第1話 カーマイン: ストーリー TVアニメ『境界の彼方』公式サイト” (bằng tiếng Nhật). Kyoto Animation. Bản gốc lưu trữ 11 tháng 10 năm 2013. Truy cập 29 tháng 4 năm 2019. 
  20. ^ “第2話 群青: ストーリー TVアニメ『境界の彼方』公式サイト” (bằng tiếng Nhật). Kyoto Animation. Bản gốc lưu trữ 10 tháng 4 năm 2013. Truy cập 29 tháng 4 năm 2019. 
  21. ^ “第3話 ムーンライトパープル: ストーリー TVアニメ『境界の彼方』公式サイト” (bằng tiếng Nhật). Kyoto Animation. Bản gốc lưu trữ 15 tháng 10 năm 2013. Truy cập 29 tháng 4 năm 2019. 
  22. ^ “第4話 橙: ストーリー TVアニメ『境界の彼方』公式サイト” (bằng tiếng Nhật). Kyoto Animation. Bản gốc lưu trữ 24 tháng 10 năm 2013. Truy cập 29 tháng 4 năm 2019. 
  23. ^ “第5話 萌黄の灯: ストーリー TVアニメ『境界の彼方』公式サイト” (bằng tiếng Nhật). Kyoto Animation. Bản gốc lưu trữ 30 tháng 10 năm 2013. Truy cập 29 tháng 4 năm 2019. 
  24. ^ “第6話 ショッキングピンク: ストーリー TVアニメ『境界の彼方』公式サイト” (bằng tiếng Nhật). Kyoto Animation. Bản gốc lưu trữ 6 tháng 11 năm 2013. Truy cập 29 tháng 4 năm 2019. 
  25. ^ “第7話 曇色: ストーリー TVアニメ『境界の彼方』公式サイト” (bằng tiếng Nhật). Kyoto Animation. Bản gốc lưu trữ 12 tháng 11 năm 2013. Truy cập 29 tháng 4 năm 2019. 
  26. ^ “第8話 凪黄金: ストーリー TVアニメ『境界の彼方』公式サイト” (bằng tiếng Nhật). Kyoto Animation. Bản gốc lưu trữ 23 tháng 11 năm 2013. Truy cập 30 tháng 4 năm 2013. 
  27. ^ “第9話 銀竹: ストーリー TVアニメ『境界の彼方』公式サイト” (bằng tiếng Nhật). Kyoto Animation. Bản gốc lưu trữ 29 tháng 11 năm 2013. Truy cập 30 tháng 4 năm 2019. 
  28. ^ “第10話 白の世界: ストーリー TVアニメ『境界の彼方』公式サイト” (bằng tiếng Nhật). Kyoto Animation. Bản gốc lưu trữ 7 tháng 12 năm 2013. Truy cập 30 tháng 4 năm 2019. 
  29. ^ “第11話 黒の世界: ストーリー TVアニメ『境界の彼方』公式サイト” (bằng tiếng Nhật). Kyoto Animation. Bản gốc lưu trữ 13 tháng 12 năm 2013. Truy cập 30 tháng 4 năm 2019. 
  30. ^ “第12話 灰色の世界: ストーリー TVアニメ『境界の彼方』公式サイト” (bằng tiếng Nhật). Kyoto Animation. Bản gốc lưu trữ 17 tháng 12 năm 2013. Truy cập 30 tháng 4 năm 2019. 
  31. ^ “『境界の彼方』新作エピソー...: ニュース TVアニメ『境界の彼方』公式サイト” (bằng tiếng Nhật). Kyoto Animation. Bản gốc lưu trữ ngày 24 tháng 3 năm 2014. Truy cập 29 tháng 4 năm 2018. 
  32. ^ a ă â b c “きょうかいのかなた アイドル裁判!”. mediaarts-db.bunka.go.jp. Truy cập 29 tháng 4 năm 2019. 

Ghi chú[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ màu thường được dùng làm màu son
  2. ^ Tên tiếng Việt được lấy từ Zing TV[15] và tiếng Anh từ Hanabee Entertainment.[16]
  3. ^ Kyoukao no Kanata được phát sóng trên Tokyo MX vào 24:30 thứ Tư (00:30 JST), tập này lại được phát vào ngày kế tiếp khác với ngày phát thông thường của những tập còn lại.[17]
  4. ^ Trong OVA, tập duy nhất là tập 0 thay cho tập 1
  5. ^ tên gọi khác của bình minh

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]