Lê Long Đề

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Lê Long Đề
Tông thất hoàng gia Việt Nam (chi tiết...)
Hành Quân Vương
Tại vị995 - ?
Thông tin chung
Tên húyLê Long Đề
Tước hiệuHành Quân Vương
Thân phụLê Đại Hành
Sinh?, Hoa Lư, Ninh Bình
Mất?

Lê Long Đề (chữ Hán: 黎龍鍉) hay Lê Minh Đề(黎明提) là một hoàng tử của nhà Tiền Lê trong lịch sử Việt Nam. Ông là con trai thứ 11 của Vua Lê Đại Hành. Sinh tại kinh đô Hoa Lư, Ninh Bình, Việt Nam. Ông được vua phong tước Hành Quân Vương(行軍王), đóng tại Bắc Ngạn, tức vùng đất thuộc tỉnh Bắc Ninh ngày nay. Căn cứ vào năm sinh người con trai thứ năm của vua Lê Đại Hành (986) và năm phong vương thì năm sinh của ông nằm trong khoảng từ 986 đến 995.

Ông được Vua Lê Đại Hành phong vương năm 995.[1] Việc này được sử gia Ngô Thì Sĩ sau này nhận xét:

"Lê Đại Hành tránh cái loạn của nhà Đinh phong khắp cho con gồm 13 tước vương, chia nhau ở các châu quận. Có lẽ là theo lối ngày xưa. Muốn nơi lớn nhỏ ràng buộc lẫn nhau, lúc nguy cấp thì cứu nhau, chống kẻ khinh rẻ mà giữ sự bền lâu, không thể thừa cơ dòm ngó như mình đối xử với nhà Đinh. Lo nghĩ cũng chu đáo đấy, phương pháp cũng chặt chẽ đấy".[2]

Đi sứ Trung Hoa lần 1[sửa | sửa mã nguồn]

Theo Đại việt sử ký toàn thư, Năm 1004, Vua Lê Đại Hành sai Hành Quân Vương Minh Đề, xưng là nhiếp Hoan Châu thứ sử, sang thăm nước Tống. Minh Đề đến Biện Kinh khẩn cầu ân mệnh cho tuyên phủ đất xa. Vua Tống bằng lòng cho; gọi vào điện riêng thăm hỏi và ban thưởng rất hậu, cho Minh Đề chức Kim tử vinh lộc đại phu kiểm hiệu thái úy Hoan Châu thứ sử. Ông ở Trung Hoa tới năm 1006 mới trở về nước. Do đó mà không được chứng kiến cảnh các anh em của mình tranh chấp ngôi vua khi Lê Đại Hành qua đời.

Đi sứ Trung Hoa lần 2[sửa | sửa mã nguồn]

Theo ghi chép của sử sách, vị vua Lê Long Đĩnh còn có người em tên là Minh Xưởng. Minh Xưởng được nhắc tới đó chính là Minh Đề, vì trong danh sách các con vua Lê Đại Hành sử chép không thấy Minh Xưởng.

Đến thời Lê Long Đĩnh trị vị, sử chép sự kiện năm 1007, Vua sai em là Minh Xưởng và Chưởng thư ký là Hoàn Thành Nhã dâng tê ngưu trắng cho nhà Tống, xin kinh Đại Tạng. Nhà Tống phong vua làm Giao Chỉ Quận Vương, lĩnh Tĩnh Hải quân tiết độ sứ và cho tên là Chí Trung, ban tước cho Minh Xưởng và Thành Nhã. Mùa xuân 1009, Minh Xưởng ở Tống về, xin được kinh Đại Tạng và dụ được người con gái nước Tống là Tiêu thị đem dâng. Vua thu nạp làm cung nhân.

Đại Việt sử ký toàn thư có ghi: "Mùa xuân (năm 1009), Minh Xưởng ở Tống về, xin được kinh Đại Tạng và dụ được người con gái nước Tống là Tiêu Thị đem dâng. Vua cho làm cung nhân".

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ngô Sĩ Liên và các sử thần triều Lê: Đại việt sử ký toàn thư. Tập 1. Sđd. trang 227
  2. ^ Ngô Thì Sĩ: Đại Việt sử ký tiền biên. q1. tờ 45b. Sđd. tr. 189.