Lính tập

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lính khố đỏ

Sau khi chiếm được Nam Kỳ, rồi Bắc Kỳ, người Pháp tổ chức thành lập các đơn vị quân bản xứ để phụ trợ cho quân chính quy Pháp trong việc đánh dẹp, bảo vệ an ninh thời Pháp thuộc. - Quân đoàn bộ binh Bắc Kỳ.

Lính tập[sửa | sửa mã nguồn]

Thời Pháp thuộc lính khố đỏ và lính khố xanh gọi chung là lính tập.

Lính khố đỏ (tiếng Pháp: tirailleurs indochinois hoặc milicien à ceinture rouge) là một lực lượng vũ trang của chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương dùng người bản xứ làm quân đội chính quy trong việc đánh dẹp. Lính khố đỏ đúng ra có ba hạng:

  • Lính khố đỏ Nam Kỳ (tiếng Pháp: tirailleurs annamites, tirailleurs cochinchinois hay tirailleurs saigonnais),
  • Lính khố đỏ Bắc Kỳ (tirailleurs tonkinois) và
  • Lính khố đỏ Cao Miên (tirailleurs cambodgiens).

Danh từ "lính khổ đỏ" xuất phát từ quân phục của nhóm này gồm quần áo chẽn, nón dẹp (sau đổi nón chóp), và giải thắt lưng màu đỏ buộc ở bụng, đầu giải buông thõng ở bẹn giống như cái khố nên người dân Việt mới gọi là "khố đỏ" tuy đúng ra người lính mặc quần chứ không phải khố.

Ngoài lính khố đỏ còn có lính khố xanh (milicien à ceinture blue, garde provincial) và lính khố vàng (milicien à ceinture jaune, garde royal à Hué) với nhiệm vụ bảo vệ an ninh, tuần tra. Lính khố xanh đóng ở các tỉnh, còn lính khố vàng đóng ở kinh đô Huế, lính khố lục canh gác phủ, huyện.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Tên quân hàm trong Quân đội Đông Dương
quân hàm chủng tộc thâu nạp tên tiếng Pháp
quan tư người Pháp commandant, chef de bataillon
quan ba người Pháp capitaine
quan hai người Pháp lieutenant
quan một người Pháp sous-lieutenant
phó quản người Pháp và Việt adjudant
đội bốn người Pháp và Việt sergent-major
đội người Pháp và Việt sergent
cai người Việt caporal
bếp người Việt tirailleur de 1⁰ classe
lính người Việt tirailleur de 2⁰ classe

Người Pháp mộ lính người Việt để đánh triều đình Huế từ năm 1860 khi họ chiếm được Đà Nẵng. Nhóm lính này không được tín nhiệm vì tỷ lệ đào ngũ khá cao. Mãi đến năm 1879 sau khi người Pháp đánh chiếm được toàn đất Nam Kỳ thì mới thành lập đội ngũ lính bản xứ hẳn hoi, tổng cộng là 1.700 người. Nhiệm vụ chính là phòng giữ và canh gác.

Năm 1882 khi vụ Henri Rivière đem quân ra đánh phá Bắc Kỳ rồi bị mai phục chết ở Cầu Giấy vào Tháng Năm năm 1883 thì thống soái Nam Kỳ mới có lệnh chuyển lính khố đỏ Nam Kỳ ra Bắc để giúp quân đội Pháp. Trận đánh thành Sơn Tây được xem là trận giao chiến đầu tiên của lính khố đỏ. Sang năm 1884 với sắc lệnh ngày 13 Tháng Năm thì mới lập thêm đội lính khố đỏ Bắc Kỳ, chủ yếu mộ lính từ cộng đồng giáo dân theo đạo Thiên Chúa; ít lâu sau thì người Pháp mở rộng việc thu nạp, không phân biệt lương dân hay giáo dân.

Đội lính khố đỏ Bắc Kỳ đông hơn, tổ chức thành bốn trung đoàn (regiment) với tổng số 14.000 lính[1] trong khi lính Nam Kỳ chỉ có một trung đoàn. Mỗi trung đoàn có bốn tiểu đoàn (bataillon) 1.000 người. Năm 1895 thì tăng lên thành năm trung đoàn lính khố đỏ Bắc Kỳ. Trung đoàn thứ năm có một số lớn dân thiểu số gốc ThổMường. Như vậy tới năm 1886, lực lượng lính tập bản xứ chiếm tới một nửa trong số khoảng 30 ngàn quân Pháp có mặt tại Bắc Kỳ, tạo điều kiện cho Khâm sứ Pháp Paul Bert có thể rút dần một số đơn vị lính Âu về nước[2].

Trong số các trung đoàn bộ binh Bắc kỳ, ba trung đoàn đầu tiên thuộc biên chế và được trả lương bởi Hải quân Pháp; trung đoàn thứ tư thuộc Bộ chiến tranh. Ngoài tra, tồn tại trong một thời gian ngắn trước khi bị giải tán, còn có một lực lượng lính Truy kích An Nam (Chasseurs Annamites), được trả lương từ ngân khố của triều đình.

Cấp chỉ huy lính khố đỏ tất cả đều là người Pháp. Mỗi trung đoàn có một viên đại tá (colonel) cầm lệnh. Mỗi tiểu đoàn (bataillon) có một thiếu tá (major) và liên đoàn (compagnie) thì có đại úy (capitaine, tiếng Việt thời đó còn gọi là "quan ba") chỉ huy.

Lính bản xứ chỉ được thăng cao nhất là làm phó quản (adjudant). Kém hơn là đội (sergent nay tương đương với trung sĩ) hoặc cai (caporal) mà thôi.[3]

Lực lượng vệ binh bản xứ[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi củng cố vị trí của mình tại Đông Dương, Pháp cho tổ chức ở Liên bang Đông Dương lực lượng vệ binh bản xứ. Lực lượng này thành lập ngày 30 tháng 6 năm 1915 theo sắc lệnh của Tổng thống Pháp, gồm toàn bộ binh lính người bản xứ (Đông Dương và Quảng Châu Loan) không thuộc lực lượng chính quy (quân đội thuộc địa của Pháp). Lực lượng này thuộc quyền chỉ huy tối cao của chính quyền Pháp, lúc bấy giờ gọi là Nguyên súy tổng thống Đông Dương quân vụ đại thần (général commandant en chef de l'Indochine). Ở mỗi kỳ thì do thống đốc Nam Kỳ, thống sứ Bắc kỳ và khâm sứ Trung kỳ chỉ huy.

Về mặt chức năng, họ có nhiệm vụ bảo đảm trật tự an ninh; canh gác công sở, trại giam tuyên giao thông; áp tải tội phạm, áp tải hàng hóa của chính quyền; đàn áp các cuộc khởi nghĩa và nổi dậy... Lực lượng cảnh sát đặc biệt toàn Đông Dương được coi như địa phương quân, được tuyển mộ như lính thuộc quân đội thuộc địa Pháp ở Đông Dương và sẵn sàng bổ sung cho quân đội thuộc địa khi cần theo lệnh của toàn quyền Đông Dương.

Thuộc lực lượng cảnh sát đặc biệt toàn Đông Dương có: vệ binh bản xứ (Garde Indigène; ở Bắc kỳ, Trung kỳ, Lào và Quảng Châu Loan thường gọi là lính khố xanh, ở Nam kỳ gọi là lính thủ bộ), vệ binh miền núi (Garde Montagnarde; thường gọi là lính dõng) và lính cơ (P. Milice). Quân số (đầu 1945) khoảng 22.000 người.

Sau năm 1945[sửa | sửa mã nguồn]

Lực lượng vệ binh bản xứ tan rã khi Nhật đảo chính Pháp (ngày 9 tháng 3 năm 1945); một phần được tập hợp lại làm "nghĩa dũng quân" bảo vệ chính phủ Trần Trọng Kim của Đế quốc Việt Nam. Nhóm quân này đến Tháng Tám năm 1945 sau khi sát nhập Nam Kỳ vào lại nước Việt Nam thì chuyển thành "bảo an binh". Tuy vậy lực lượng này vẫn phụ thuộc Quân đội Đế quốc Nhật Bản. Khi Nhật Bản thất trận thì lực lượng này cũng không tồn tại.[4]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Le livre du soldat annamite, Nam binh tu tri. Hanoi: Imprimerie Tonkinoise, 1914.
  • Heath, Ian. Armies of the Nineteenth Century: Asia. Nottingham, UK: Foundry Books, 2003.
  • Hoàng Cơ Thụy. Việt sử khảo luận. Paris: Nam Á, 2002.
  • Karl Hack and Tobias Rettig. (2006). Colonial armies in Southeast Asia. New York: Routledge. ISBN 0-415-33413-6. 

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Hoàng Cơ Thụy. tr 1399
  2. ^ Karl Hack and Tobias Rettig, trang 137
  3. ^ Le livre du soldat annamite, Nam binh tu tri. tr 140-143
  4. ^ Vũ Ngự Chiêu. Political and Social Change in Viet-Nam between 1940 and 1946. Madison, WI: The University of Wisconsin, 1984. tr 360

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]