Lý Tòng Ích

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Lý Tòng Ích (李從益) (931[1]-23 tháng 6, 947[2][3]), còn gọi là Hứa Vương (許王), là một thân vương của triều Hậu Đường thời Ngũ Đại Thập Quốc. Trong tình hình hỗn loạn sau khi Khiết Đan diệt Hậu Tấn, một tướng Khiết Đan là Tiêu Hàn buộc Lý Tòng Ích phải xưng đế. Sau đó, Lý Tòng Ích bị Hậu Hán Cao Tổ Lưu Tri Viễn giết.

Lý Tòng Ích sinh năm 931, là ấu tử của Lý Tự Nguyên, và là người duy nhất sinh ra sau khi Lý Tự Nguyên trở thành hoàng đế. Mẹ đẻ của ông là một cung tần của Lý Tự Nguyên. Hậu Đường Minh Tông Lý Tự Nguyên giao Lý Tòng Ích cho ái thiếp của mình là Vương thục phi nuôi dưỡng.[1] (Vương thục phi cũng nuôi dưỡng muội của Lý Tòng Ích là Vĩnh Ninh công chúa.)[4]

Thời Hậu Đường[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày Mậu Dần tháng 5 năm Quý Tị (29 tháng 5 năm 933), Hậu Đường Minh Tông phong Lý Tòng Ích là Hứa vương, cùng thời điểm với một số thành viên khác trong tông thất.[5]

Tháng 11 ÂL cùng năm, thứ tử của Hậu Đường Minh Tông là Tần vương Lý Tòng Vinh cố gắng đoạt quyền trong lúc phụ hoàng bị bệnh, tuy nhiên Lý Tòng Vinh thất bại và bị giết. Hậu Đường Minh Tông qua đời một tuần sau, Tống vương Lý Tòng Hậu kế vị, tức Hậu Đường Mẫn Đế. Sau đó, nhũ mẫu của Lý Tòng Ích là ty y Vương thị bị phát hiện tư thông với Lý Tòng Vinh và bị ban chết. Hậu Đường Mẫn Đế cũng nghi ngờ Vương đức phi.[5]

Năm 934, Lộ vương Lý Tòng Kha lật đổ Hậu Đường Mẫn Đế, và trở thành hoàng đế.[6] Đến năm 936, phò mã của Hậu Đường là Thạch Kính Đường kết hôn với Tấn quốc công chúa, nổi dậy chống lại Lý Tòng Kha. Thoạt đầu Thạch Kính Đường tuyên bố rằng Lý Tòng Kha chỉ là dưỡng tử, hoàng vị cần phải trao cho Lý Tòng Ích. Tuy nhiên, đến khi có sự trợ giúp của Hoàng đế Khiết Đan Da Luật Đức Quang, Thạch Kính Đường tự xưng đế và lập ra triều Hậu Tấn. Tình hình kinh thành Lạc Dương trở nên vô vọng, Hoàng đế Lý Tòng Kha chuẩn bị để các thành viên trong tông thất cùng tự thiêu. Vương đức phi nay mang tước hiệu thái phi, bà có gắng thuyết phục chính thất của Hậu Đường Minh Tông là Tào thái hậu (cũng là mẹ đẻ của Tấn quốc trưởng công chúa), không tham gia vào việc tự thiêu. Tào thái hậu không nghe theo, song thuyết phục Vương đức phi tiếp tục sống, Vương đức phi đem Lý Tòng Ích và Vĩnh An công chúa trốn trong cầu trường, trong khi Tào thái hậu, Lý Tòng Kha, và một số triều thần khác tự thiêu vào tháng 11 nhuận năm đó (tức tháng 1 năm 937). Thạch Kính Đường sau đó đến Lạc Dương và nắm quyền cai quản đế chế.[4][7]

Thời Hậu Tấn[sửa | sửa mã nguồn]

Hậu Tấn Cao Tổ Thạch Kính Đường phong Tấn quốc trưởng công chúa là hoàng hậu. Lý hoàng hậu đưa Lý Tòng Ích và Vương thái phi vào trong cung ở Khai Phong, đích thân nuôi dưỡng Lý Tòng Ích. Ngày Quý Mùi (15) tháng 9 năm Kỉ Hợi (30 tháng 10 năm 939), Hậu Tấn Cao Tổ phong Lý Tòng Ích là Tuân quốc công[8] phong ba nghìn hộ, yêu cầu ông chịu trách nhiệm cúng tế triều Đường (Hậu Đường tuyên bố là tiếp nối triều Đường), kiểu trang phục và màu tinh kì đều theo cựu chế, thờ năm vị là Cao Tổ, Thái Tông, Trang Tông, Minh Tông và Mẫn Đế tại Chí Đức cung (至德宫)- nơi Lý Tòng Ích và Vương thái phi làm chủ từ.[4]

Hậu Tấn Cao Tổ qua đời năm 942, kế vị là Thạch Trọng Quý.[9] Sau khi Thạch Trọng Quý tức vị, Vương thái phi và Lý Tòng Ích trở về Lạc Dương.[4] Năm 946, Hoàng đế Khiết Đan Da Luật Đức Quang nam hạ, Thạch Trọng Quý đầu hàng, triều Hậu Tấn kết thúc.[10]

Sau khi Hậu Tấn bị diệt[sửa | sửa mã nguồn]

Da Luật Đức Quang tiến vào Khai Phong, và tuyên bố ông là hoàng đế của Trung Quốc.[11] Đương thời, thê tử của Triệu Diên Thọ (cựu tướng Hậu Tấn song phục vụ cho Liêu từ khi bị Da Luật Đức Quang bắt)[12] qua đời, Liêu Thái Tông Da Luật Đức Quang do vậy muốn gả Vĩnh An công chúa cho Triệu Diên Thọ làm kế thất khi Vương thái phi đến Khai Phong hội lễ. Liêu Thái Tông trông thấy bà thì bái bà làm 'tẩu', phong Lý Tòng Ích là Hứa vương, Uy Tín[c 1] tiết độ sứ. Vương thục phi cho rằng Lý Tòng Ích còn quá nhỏ tuổi nên từ chối, và trở về Lạc Dương.[11]

Do xảy ra nhiều cuộc nổi dậy, Liêu Thái Tông quyết định trở về phía bắc, để Tiêu Hàn (蕭翰) lưu thủ Khai Phong. Liêu Thái Tông qua đời trên đường đi, khiến Liêu rơi vào nội chiến giành quyền kế vị. Bản thân Tiêu Hàn muốn từ bỏ Khai Phong, đặc biệt là khi cựu tướng Hậu Tấn là Lưu Tri Viễn đang đem quân hướng về Lạc Dương và Khai Phong, tuy nhiên Tiêu Hàn cũng sợ rằng đương thời Trung Nguyên vô chủ đại loạn, nếu từ bỏ Khai Phong về bắc thì không an toàn. Tiêu Hàn khiển Cao Mô Hàn (高謨翰) đến Lạc Dương với danh nghĩa Liêu Thái Tông, mời Vương thái phi và Lý Tòng Ích đến thành Đại Lương ở Khai Phong. Vương thái phi và Lý Tòng Ích trốn tại Huy lăng (lăng mộ của Hậu Đường Trang Tông), song bất đắc dĩ phải ra. Khi họ đến thành Đại Lương, Tiêu Hàn lập Lý Tòng Ích làm hoàng đế, cùng các tù trưởng vái lậy. Tiêu Hàn cho Lễ bộ thượng thư Vương Tùng (王松), Ngự sử trung thừa Triệu Viễn (趙遠) làm tể tướng; cho Địch Quang Nghiệp (翟光鄴) làm xu mật sứ; Tả kim ngô đại tướng quân Vương Cảnh Sùng (王景崇) làm Tuyên huy sứ, Chỉ huy sứ Lưu Tộ (劉祚) từ bắc đến làm quyền Thị vệ thân quân đô chỉ huy sứ, gách vác việc tuần kiểm kinh thành. Tiêu Hàn để lại một nghìn quân Yên[c 2] phòng thủ Khai Phong. Đến ngày Nhâm Dần (18) tháng 5 năm Đinh Mùi (9 tháng 6 năm 947), Tiêu Hàn đem quân về bắc, Lý Tòng Ích tiễn ở Bắc Giao.[2]

Vương thái phi nhận ra rằng bà và Lý Tòng Ích ở vào tình thế nguy hiểm, và khi bá quan đến yết kiến, bà khóc và nói, "Mẫu tử ta đơn nhược như thế này, song chư công lại suy tôn bọn ta thì là họa cho nhà các người đó!" Vương thái phi cố gắng củng cố phòng thủ Khai Phong khi khiển sứ triệu Quy Đức[c 3] tiết độ sứ Cao Hành Chu (高行周) và Hà Dương[c 4] tiết độ sứ Vũ Hành Đức (武行德), song cả hai đều không đến. Vương thái phi sợ hãi, triệu đại thần bàn thảo, nói: "Mẫu tử ta bị Tiêu Hàn ép buộc, nay rõ ràng sẽ diệt vong. Chư công vô tội, nên sớm nghênh tân chủ để tự cầu thêm phúc. Đừng suy nghĩ về mẫu tử ta!" các triều thần đều cảm động và không ai dời đi. Sau đó, có người chủ trương chống Lưu Tri Viễn, cho rằng nếu có thể cầm cự được một tháng thì quân Liêu tất sẽ đến cứu. Vương thái phi cho rằng kháng cự là vô ích, khiến người dân Khai Phong bất hạnh, và do vậy quyết định đầu hàng. Do đó, bà yêu cầu Lý Tòng Ích dùng tước Lương vương dâng biểu xưng thần và nghênh Lưu Tri Viễn đến Khai Phong, họ ra khỏi cung điện và ở trong tư đệ.[2]

Ngày Bính Thìn (3) tháng 6 (23 tháng 6), Lưu Tri Viễn tiến vào Lạc Dương, mệnh Trịnh châu phòng ngự sứ Quách Tòng Nghĩa (郭從義) đến thành Đại Lương trước với mật lệnh giết Lý Tòng Ích và Vương thái phi. Đối mặt với cái chết, Vương thái phi nói: "Con ta là do Khiết Đan lập, có tội gì mà phải chết? Sao không giữ lại để mỗi năm vào tiết Hàn thực, nó có thể cúng một chén lúa mì cho Minh Tông?" người nghe rớt nước mắt.[2]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ 威信, trị sở nay thuộc Hà Trạch, Sơn Đông
  2. ^ tức quân đến từ Lô Long 盧龍, trị sở tại Bắc Kinh, được Hậu Tấn Cao Tổ cắt nhượng cho Liêu
  3. ^ 歸德, trị sở nay thuộc Thương Khâu, Hà Nam
  4. ^ 河陽, trị sở nay thuộc Lạc Dương

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Cựu Ngũ Đại sử, quyển 51.
  2. ^ a ă â b Tư trị thông giám, quyển 287.
  3. ^ Viện Nghiên cứu Trung ương (Đài Loan) Chuyển hoán lịch Trung-Tây 2000 năm.
  4. ^ a ă â b Tân Ngũ Đại sử, quyển 15.
  5. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 278.
  6. ^ Tư trị thông giám, quyển 279.
  7. ^ Tư trị thông giám, quyển 280.
  8. ^ Tư trị thông giám, quyển 282.
  9. ^ Tư trị thông giám, quyển 283.
  10. ^ Tư trị thông giám, quyển 285.
  11. ^ a ă Tư trị thông giám, quyển 286.
  12. ^ Tư trị thông giám, quyển 281.