Lưu Tống Hiếu Vũ Đế

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Lưu Tống Hiếu Vũ Đế
Hoàng đế Trung Hoa (chi tiết...)
Vua Lưu Tống
Trị vì 453464
Tiền nhiệm Lưu Thiệu
Kế nhiệm Tiền Phế Đế
Thông tin chung
Thê thiếp Xem văn bản
Hậu duệ Xem văn bản
Tên thật Lưu Tuấn (劉駿)
Niên hiệu Hiếu Kiến (孝建) 454-456
Đại Minh (大明) 457-464
Thụy hiệu Hiếu Vũ Hoàng đế (孝武皇帝)
Miếu hiệu Thế Tổ (世祖)
Triều đại Lưu Tống
Thân phụ Văn Đế
Thân mẫu Lộ Huệ Nam (路惠男)
Sinh 430
Mất 464
Kiến Khang
An táng Cảnh Ninh lăng (景寧陵)

Lưu Tống Hiếu Vũ Đế (劉宋孝武帝) (430–464), tên húy là Lưu Tuấn (Trung văn giản thể: 刘骏; phồn thể: 劉駿; bính âm: Liú Jùn), tự Hưu Long (休龍), biệt danh Đạo Dân (道民), là một hoàng đế của triều Lưu Tống trong lịch sử Trung Quốc. Ông là con trai của Văn Đế. Sau khi huynh trưởng Lưu Thiệu ám sát phụ hoàng vào năm 453 rồi đoạt lấy ngôi vị, ông đã nổi dậy và lật đổ Lưu Thiệu. Ông thường được đánh giá là một vị hoàng đế có năng lực, song lỗ mãng và loạn luân. Ông đã giảm bớt rất nhiều quyền lực của các quần thần và thân vương trong suốt thời gian cai trị của mình.

Bối cảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu Tuấn sinh năm 430 và là con trai thứ ba của Văn Đế. Mẫu thân của ông tên là Lộ Huệ Nam, bà không phải là phi tần được Văn Đế sủng ái, và Lưu Tuấn cũng không được phụ hoàng quá yêu mến. Năm 435, Lưu Tuấn được phong làm Vũ Lăng vương. Năm 439, khi mới 9 tuổi, Lưu Tuấn được phong làm thứ sử Tương Châu (湘州, nay là Hồ Nam), và trong những năm tiếp theo ông được luân chuyển làm thứ sử của các châu khác nhau, song ông không thật sự đảm đương các nhiệm vụ của một thứ sử cho đến năm 445, khi ông được phong làm thứ sử Ung Châu (雍州, nay là tây bắc bộ Hồ Bắc và tây nam bộ Hà Nam), một châu quan trọng về mặt quân sự do có biên giới với Bắc Ngụy kình địch. Khi Văn Đế quan tâm đến việc lấy lại các châu bị mất cho Bắc Ngụy dưới thời gian trị vì của Thiếu Đế, Ung Châu được coi là một nơi then chốt. Do mẫu thân của ông không được phụ hoàng sủng ái, bà phần lớn đi theo ông thay vì ở trong hoàng cung tại kinh thành Kiến Khang.

Năm 448, Lưu Tuấn được phong làm thứ sử một châu khác quan trọng không kém là Từ Châu (徐州, nay là bắc bộ Giang Tô và bắc bộ An Huy), trị sở tại Bành Thành, và tại đó ông đã tham gia vào một cuộc chiến tranh lớn giữa Lưu Tống và Bắc Ngụy. Năm 450, cuộc bắc phạt của Văn Đế bị Bắc Ngụy Thái Vũ Đế đẩy lui, quân Bắc Ngụy tiếp đó đã tấn công phương Nam để trả đũa và nhanh chóng tiếp cận Bành Thành. Thúc phụ của Lưu Tuấn là Giang Hạ vương Lưu Nghĩa Cung (劉義恭), ông ta là người chỉ huy Bắc quân song lại muốn từ bỏ Bành Thành. Tuy nhiên, theo đề xuất của Trương Sướng (張暢), Lưu Tuấn vẫn khăng khăng trấn thủ Bành Thành, và Lưu Nghĩa Cung đã tự mình lên kế hoạch để bỏ trốn. Thái Vũ Đế sau đó tuy chưa chiếm được Bành Thành song đã tiếp tục tiến về phía nam và đã đến được Trường Giang trước khi rút lui vào năm 451. Mặc dù giữ được Bành Thành, Lưu Tuấn đã bị giáng chức ở mức nhỏ sau chiến tranh. (Trong cuộc chiến, theo xúi giục của Lưu Tuấn, thái tử Lưu Thiệu và Hà Thượng Chi (何尚之), Văn Đế đã xử tử hoàng đệ Lưu Nghĩa Khang.) Năm 452, Lưu Tuấn được cử đi làm thứ sử Nam Duyện Châu (南兗州, nay là trung bộ Giang Tô), rồi sau đó là Giang Châu (江州, nay là Giang TâyPhúc Kiến).

Nổi dậy chống lại Lưu Thiệu[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 452, Lưu Thiệu cùng Thủy Hưng vương Lưu Tuấn (có Hán tự khác, 劉濬), đã bị phát giác chuyện thông đồng với một đồng cô để yểm bùa cho Văn Đế sớm chết để Lưu Thiệu có thể nhanh chóng trở thành hoàng đế, và Văn Đế đã tính đến việc trừng phạt họ. Đến năm 453, Lưu Thiệu tiến hành chính biến và ám sát Văn Đế, sau đó lên ngôi hoàng đế. Lúc này, Vũ Lăng vương Lưu Tuấn đang ở tại Ngũ Châu (五洲, một hòn đảo nhỏ trên Trường Giang và nay thuộc Hoàng Cương, Hồ Bắc) để chuẩn bị tấn công các sắc dân nổi loạn trong vùng. Một viên quan phụ trách về giao tế tên là Đổng Nguyên Tự (董元嗣) đã từ Kiến Khang đến và thông tin về việc Lưu Thiệu ám sát Văn Đế, Lưu Tuấn liền lệnh cho Đổng thông báo lại diễn biến của sự việc cho các thuộc hạ của mình.

Trong khi đó, Lưu Thiệu đã viết một mật thư cho tướng Thẩm Khánh Chi (沈慶之, là người khi đó đang ở cạnh Lưu Tuấn), lệnh cho Thẩm ám sát Lưu Tuấn. Tuy nhiên, Thẩm đã không làm theo lệnh của Lưu Thiệu mà lại trình bức thư cho Lưu Tuấn, Thẩm cũng lệnh cho quân của mình ở vào tình trạng khẩn cấp để sẵn sàng cho một cuộc nổi loạn chống lại Lưu Thiệu. Thúc phụ của Lưu Thiệu là Nam Tiếu vương Lưu Nghĩa Tuyên (劉義宣) lúc bấy giờ đang là thứ sử Kinh Châu (荊州, nay là Hồ Bắc), và thứ sử của Ung Châu là Tang Chí (臧質) đều cử người đưa tin đến chỗ Lưu Tuấn và thỉnh cầu ông hãy xưng đế. Lưu Tuấn ban đầu trở về trị sở Tầm Dương (尋陽, nay thuộc Cửu Giang, Giang Tây) của Giang Châu, và sau đó kêu gọi các thứ sử và thái thú khác hãy tham gia nổi dậy cùng ông. Lưu Nghĩa Tuyên và Tang Chí đã nhanh chóng đem quân đến, và họ nhanh chóng tiến quân về Kiến Khang. Lúc này, em trai của Lưu Tuấn là Tùy vương Lưu Đản (劉誕), thái thú của quận Hội Kê (會稽, nay gần tương ứng với Thiệu Hưng, Chiết Giang) cũng tuyên bố ủng hộ Lưu Tuấn.

Trong vòng chưa đầy một tháng, Lưu Tuấn đã tiến đến vùng lân cận của Kiến Khang; tuy nhiên ông đã bị bệnh nặng trong suốt cuộc hành trình, và khi đó một thuộc hạ tên là Nhan Thuân (顔竣) đã đóng giả ông để tránh tin ông bị ốm bị lộ ra. Ban đầu, quân của Lưu Thiệu đã có được chút ít thành công, song một tướng chính của Lưu Thiệu là Lỗ Tú (魯秀) ngay sau đó đã phá hoại các nỗ lực của ông ta và sau đó chạy trốn đến doanh trại của Lưu Tuấn. Ngay sau đó, Lưu Tuấn xưng đế (tức Hiếu Vũ Đế), trong khi chiến tranh vẫn tiếp tục diễn ra. Bảy ngày sau, hoàng cung thất thủ, Lưu Thiệu và Thủy Hưng vương Lưu Tuấn bị bắt giữ rồi bị giết. Hiếu Vũ Đế chào đón mẫu thân và vương phi Vương Hiến Nguyên (王憲嫄) đến kinh thành, phong cho mẫu thân là thái hậu và phong vương phi là hoàng hậu. Hiếu Vũ Đế cũng lập con trai cả Lưu Tử Nghiệp làm thái tử.

Thời gian đầu trị vì[sửa | sửa mã nguồn]

Một hành vi cá nhân của Hiếu Vũ Đế đã ngay lập tức trở thành một vấn đề chính trị, ông được thuật lại là đã có mối quan hệ loạn luân với tất cả những người con gái của Lưu Nghĩa Tuyên còn ở tại Kiến Khang (tức giữa anh và em họ), điều này đã khiến Lưu Nghĩa Tuyên giận dữ. Thêm vào đó, do Lưu Nghĩa Tuyên và Tang Chí đã có đóng góp to lớn cho đại nghiệp của ông, nên họ có thể hành động với quyền hạn tối thượng trong các châu họ quản lý (Kinh Châu và Giang Châu), song Hiếu Vũ Đế cũng cố gắng để thiết lập quyền lực cá nhân của mình. Lưu Nghĩa Tuyên và Tang Chí do đó đã quyết tâm nổi loạn. Đến mùa xuân năm 454, họ cử người đến thuyết phục một huynh đệ của Lỗ Tú là thứ sử Dự Châu (豫州, nay là trung bộ An Huy) Lỗ Sảng (魯爽) tham gia nổi loạn cùng với họ vào mùa thu. Tuy nhiên, khi những người đưa tin đến, Lỗ Sảng đang ở trong trạng thái say rượu nên đã hiểu sai và ngay lập tức tuyên bố nổi loạn, tuyên bố Lưu Nghĩa Tuyên là hoàng đế. Bên cạnh đó, thứ sử Duyện Châu (兗州, nay là tây bộ Sơn Đông) là Từ Di Bảo (徐遺寶) cũng cùng tham gia với Lỗ. Khi hay tin về hành động của Lỗ Sảng, Lưu Nghĩa Tuyên và Tang Chí cũng đã nhanh chóng tuyên bố nổi loạn, song sau một thời gian ngắn thì họ mới tuyên bố Lưu Nghĩa Tuyên là hoàng đế.

Hiếu Vũ Đế hay tin bốn châu nổi loạn, ban đầu nghĩ rằng mình không thể chống chịu được và đã tính đến việc nhường ngôi lại cho Lưu Nghĩa Tuyên, song do hoàng đệ là Cánh Lăng vương Lưu Đản phản đối nên cuối cùng Hiếu Vũ Đế đã quyết định chống lại quân nổi loạn. Hầu hết các châu khác đã nhanh chóng tuyên bố ủng hộ Hiếu Vũ Đế, và thứ sử Kí Châu (冀州, nay là tây bắc bộ Sơn Đông) là Viên Hộ Chi (垣護之), cùng với Minh Dận (明胤) và Hạ Hầu Tổ Hoan (夏侯祖歡) đã nhanh chóng đánh bại Từ Di Bảo, buộc người này phải chạy trốn đến chỗ Lỗ Sảng. Mặc dù tàn bạo trên chiến trường song Lỗ Sảng vẫn tiếp tục uống nhiều rượu trong suốt các chiến dịch. Khi Lỗ Sảng gặp phải chiến đấu với quân của tướng Tiết An Đô (薛安都), Lỗ Sảng đã bị ngã ngựa và bị giết chết, điều này đã khiến cho quân của Lưu Nghĩa Tuyên và Tang Chí mất hết chí khí. Lưu Nghĩa Tuyên cũng không tin tưởng vào Tang Chí, và đã từ chối chiến lược tấn công trực tiếp vào Kiến Khang của Tang, thay vào đó Lưu Nghĩa Tuyên lại chọn cách giao chiến với quân của Hiếu Vũ Đế tại Lương Sơn (梁山, nay thuộc Sào Hồ, An Huy). Sau một số thất bại ban đầu, quân của Lưu Nghĩa Tuyên đã sụp đổ còn bản thân ông ta đã chạy trốn. Tang Chí cũng buộc phải chạy trốn song đã sớm bị giết chết. Lưu Nghĩa Tuyên cuối cùng đã bị bắt giữ rồi bị hành hình, kết thúc sự kiện do phe chống đối Hiếu Vũ Đế gây ra. Sau cuộc nổi loạn, Hiếu Vũ Đế đã quyết định giảm bớt quyền lực của thứ sử các châu chính (Kinh Châu, Giang Châu, cũng như châu có kinh thành là Dương Châu (揚州, nay là Chiết Giang và nam bộ Giang Tô) bằng cách giảm bớt cương vực của các châu này, lập nên Đông Dương Châu (東揚州, nay là trung bộ và đông bộ Chiết Giang) từ Dương Châu và lập nên Dĩnh Châu (郢州, nay là đông bộ Hồ Bắc) từ Kinh Châu và Giang Châu. Tuy nhiên, việc này cũng khiến triều đình phải gia tăng thêm chi phí hành chính cấp cho các châu.

Năm 455, hoàng đệ mới 16 tuổi của Hiếu Vũ Đế là Vũ Xương vương Lưu Hồn (劉渾), đồng thời là thứ sử Ung Châu, đã viết lời bông đùa trong một bản văn rằng mình là Sở vương và cải niên hiệu, song Lưu Hồn thực tâm không hề có ý nổi loạn. Tuy nhiên, khi biết chuyện, Hiếu Vũ Đế đã tước bỏ tước hiệu của Lưu Hồn và giáng hoàng đệ làm thứ dân, và sau đó còn buộc Lưu Hồn phải tự sát. Đây là dấu mốc bắt đầu giai đoạn Hiếu Vũ Đế tước bỏ quyền lực của các hoàng đệ. Ngoài ra, thẩm quyền các quan giao tế cấp châu bắt đầu được tăng cường rất nhiều, lý do là vì họ có nhiệm vụ liên lạc giữa hoàng đế và thứ sử các châu và theo dõi hành động của các thứ sử cho hoàng đế.

Sau khi Hiếu Vũ Đế đoạn tang ba năm Văn Đế, ông bắt đầu dồn sức lực cho những trò tiêu khiển và dự án xây dựng. Thành chủ Kiến Khang là Nhan Thuân (người này đã giúp Hiếu Vũ Đế rất nhiều trong chiến dịch chống lại Lưu Thiệu và đã có một thời gian dài làm thuộc hạ cho Hiếu Vũ Đế) đã nhiều lần thúc giục Hiếu Vũ Đế hãy thay đổi cung cách sống của mình, vì thế Hiếu Vũ Đế trở nên không hài lòng với Nhan và đã cử Nhan đi làm thứ sử Đông Dương Châu. Trong khi đó, Hiếu Vũ Đế cũng trở nên nghi ngờ hoàng đệ Cánh Lăng vương Lưu Đản, Lưu Đản khi đó đang làm thứ sử Nam Yên Châu và đây là một người này có nặng lực và đã tập hợp nhiều chiến binh cho Hiếu Vũ Đế. Hiếu Vũ Đế vì thế đã thiết lập một hệ thống canh gác quân sự nghiêm ngặt giữa trị sở của Lưu Đản tại Quảng Lăng (廣陵, nay thuộc Dương Châu, Giang Tô) và kinh thành.

Năm 458, Cao Đồ (高闍) và nhà sư Đàm Phiêu (曇標) đã âm mưu phản loạn song bị phát hiện, Hiếu Vũ Đế vì thế đã ban hành một chiếu chỉ nhằm giảm mạnh số sư tăng và ni cô, song vì các thành viên trong gia đình Hiếu Vũ Đế thường xuyên có quan hệ với các ni cô nên chiếu chỉ đã không bao giờ được thi hành trên thực tế. (Hiếu Vũ Đế cũng nhân cơ hội này để vu cáo Vương Tăng Đạt (王僧達) có liên quan sau khi người này đã vô lễ với một cháu trai của Lộ Thái hậu tên là Lộ Quỳnh Chi (路瓊之), và Lộ Thái hậu sau đó đã kêu gọi Hiếu Vũ Đế giết chết Vương.)

Do Hiếu Vũ Đế không tin tưởng các đại thần cấp cao, ông thường tham khảo ý kiến từ những thuộc hạ đã phục vụ lâu năm là Đới Pháp Hưng (戴法興), Đới Minh Bảo (戴明寶), và Sào Thượng Chi (巢尚之). Do đó, ba người này có rất nhiều quyền lực và giàu có, mặc dù trong thực tế thì họ chỉ có chức tước tương đối thấp.

Thời kỳ trị vì cuối[sửa | sửa mã nguồn]

Đến năm 459, đã xuất hiện nhiều tin đồn cho rằng Lưu Đản sẽ nổi loạn hoặc Hiếu Vũ Đế có hành động chống lại Lưu Đản, và đáp lại, Lưu Đản đã lập nên tuyến phòng thủ hùng mạnh xung quanh Quảng Lăng. Trong khi đó, theo các tấu trình về các tội của Lưu Đản (do chính Hiếu Vũ Đế xúi giục), Hiếu Vũ Đế đã ban một chiếu chỉ giáng Lưu Đản xuống tước hầu, và cùng lúc đó đã cử tướng Viên Điền (垣闐) và Đới Minh Bảo thực hiện một cuộc tấn công bất ngờ vào Giang Lăng. Tuy nhiên, khi họ đến gần, Lưu Đản đã phát hiện ra và tiến hành phản kích, giết chết Viên Điền. Lưu Đản bố cáo thiên hạ rằng Hiếu Vũ Đế có các mối quan hệ loạn luân (trong đó có một điểm được một số sử gia tin là đúng, đó là Hiếu Vũ Đế đã có mối quan hệ loạn luân với mẫu thân là Lộ Thái hậu). Điều này đã chọn giận Hiếu Vũ Đế, và ông đã cho tàn sát gia đình các thuộc hạ của Lưu Đản.

Hiếu Vũ Đế cử Thẩm Khánh Chi đi đánh Lưu Đản, Thẩm đã bao vây Quảng Lăng sau khi cắt đứt tuyến đường Lưu Đản phải sử dụng nếu muốn chạy trốn sang Bắc Ngụy. Lưu Đản trong một thời gian ngắn đã bỏ Quảng Lăng và tìm đường chạy trốn, song do nghe theo lời của các thuộc hạ nên Lưu Đản đã quay trở lại Quảng Lăng và thủ thành. Trong khi đó, Hiếu Vũ Đế cũng cho rằng Nhan Thuân đã tiết lộ các hành động thiếu thận trọng của mình, ông liền vu cáo Nhan Thuân là đồng sự với Lưu Đản trong cuộc phản loạn này, rồi buộc Nhan phải tự sát, Hiếu Vũ Đế cũng hạ lệnh giết chết tất cả các thành viên là nam giới trong gia đình của Nhan sau khi Nhan chết. Sau khi Thẩm Khánh Chi chiếm được Quảng Lăng và giết chết Lưu Đản, theo lệnh của Hiếu Vũ Đế, hầu hết cư dân Quảng Lăng đã bị thảm sát.

Một hoàng đệ có tính khí bốc đồng của Hiếu Vũ Đế là Hải Lăng vương Lưu Hưu Mậu (劉休茂), ông ta đồng thời là thứ sử Ung Châu. Năm 461, Lưu Hưu Mậu tức giận trước việc các quan giao tế là Dương Khánh (楊慶) và Đới Song (戴雙) và quan võ Dữu Thâm Chi (庾深之) kiềm chế quyền lực của mình, Lưu Hưu Mậu đã tiết hành nổi loạn song đã bị chính các thuộc hạ của mình dập tắt. Biết rằng Hiếu Vũ Đế ngày càng trở nên nghi ngờ tất cả các hoàng đệ, thúc phụ Lưu Nghĩa Cung (lúc này là thái tể, tư đồ và trung thư giám) đã đề xuất về việc cấm các thân vương được sở hữu vũ khí, cấm làm thứ sử tại các châu biên giới và cấm kết giao với những người không phải là thành viên trong gia đình của họ. Tuy nhiên, do phản đối của Thẩm Hoài Văn (沈懷文), đề xuất của Lưu Nghĩa Cung đã không được thực hiện.

Năm 462, một ái thiếp của Hiếu Vũ Đế là Ân thục nghi qua đời. (Hầu hết các sử gia tin rằng Ân thục nghi thực ra là một con gái của Lưu Nghĩa Tuyên, và bà chính thức được phong làm phi thần sau cái chết của Lưu Nghĩa Tuyên song mối quan hệ loạn luân được che giấu bằng cách tuyên bố bà xuất thân từ gia đình của một viên quan tên là Ân Diễm (殷琰), song một số tin rằng Ân thục nghi thực sự là một thành viên của Ân gia và sau đó được đưa vào nhà Lưu Nghĩa Tuyên.) Hiếu Vũ Đế đã rất thương tiếc bà, đến nỗi ông đã không thể xử lý các công việc của đất nước. Hiếu Vũ Đế đã cho xây dựng một lăng mộ và đền thờ tráng lệ cho bà, các công trình này đã tiêu tốn nhiều nhân công cưỡng bức.

Năm 464, Hiếu Vũ Đế băng hà, và kế vị ông là con trai Lưu Tử Nghiệp (tức Tiền Phế Đế). Sử gia Tư Mã Quang đã viết trong Tư trị thông giám về những năm trị vì cuối cùng của Hiếu Vũ Đế:

Vào cuối triều đại của mình, [Hiếu Vũ Đế] đặc biệt tham lam. Bất kỳ khi nào các thứ sử hay các thái thú dời khỏi trị sở và hồi kinh, hoàng đế bắt họ phải nộp đủ lượng triều cống, và cũng đánh bạc không ngừng với họ cho đến khi ông giành được chiến thắng đối với lượng tài sản của họ. Ông thường xuyên uống rượu và ít khi tỉnh táo, song các phản ứng của ông là nhanh chóng. Ông thường ngủ trong trạng thái ngẩn ngơ trên ghế của mình, song nếu như có đệ trình khẩn cấp từ các bá quan, ông có thể tự đánh thức mình nhanh chóng và trở nên cảnh giác trong khi không có dấu hiệu nào của việc say xỉn. Do đó, các bá quan đều sợ hãi ông và không dám ăn không ngồi rồi.

Hậu phi[sửa | sửa mã nguồn]

  • Hiếu Vũ Văn Vục Vương Hoàng hậu Vương Hiến Nguyên (王憲嫄), sinh Lưu Tử Nghiệp, Lưu Tử Thượng, Lưu Sở Ngọc, Lưu Sở Bội, Lưu Sở Tú, Lưu Tu Minh
  • Ân thục nghi, sinh Lưu Tử Loan, Lưu Tử Vũ, Lưu Tử Vân, Lưu Tử Văn, Lưu Tử Sư
  • Trần thục viện, sinh Lưu Tử Huân
  • Hà thục nghi, sinh Lưu Tử Phòng
  • Từ chiêu dung, sinh Lưu Tử Thâm, Lưu Tử Nhân, Lưu Tử Sản
  • Tạ chiêu dung, sinh Lưu Tử Chân, Lưu Tử Ung, Lưu Tử Tự
  • Sử chiêu nghi, sinh Lưu Tử Nguyên
  • Sử chiêu hoa, sinh Lưu Tử Húc
  • Hà tiệp dư, sinh Lưu Tử Phượng, Lưu Tử Xu
  • Giang tiệp dư, sinh Lưu Tử Huyền, Lưu Tử Huống, Lưu Tử Tiêu
  • Dương tiệp dư, sinh Lưu Tử Mạnh, Lưu Tử Dư
  • Nguyễn dung hoa, sinh Lưu Tử Tuy
  • Đỗ dung hoa, sinh Lưu Tử Duyệt
  • Giang mỹ nhân, sinh Lưu Tử Hành, Lưu Tử Kỳ

Con cái[sửa | sửa mã nguồn]

Nam
  • Lưu Tử Nghiệp (劉子業), Thái tử (lập năm 454), sau trở thành Lưu Tống Tiền Phế Đế
  • Lưu Tử Thượng (劉子尚) (sinh 450), Dự Chương vương (lập năm 456, bị Minh Đế buộc tự sát năm 465)
  • Lưu Tử Huân (劉子勛) (sinh 456), Tấn An vương (lập năm 460, bị hành quyết năm 466), tự xưng đế
  • Lưu Tử Tuy (劉子綏), ban đầu là An Lộc vương (lập năm 458), sau là Giang Hạ vương (lập năm 465, bị buộc tự sát năm 466)
  • Lưu Tử Thâm (劉子深), mất sớm
  • Lưu Tử Phòng (劉子房) (sinh 456), ban đầu là Tầm Dương vương (lập năm 460), sau bị giáng làm Tùng Tư huyện hầu (bị tước bỏ và bị hành quyết năm 466)
  • Lưu Tử Húc (劉子頊) (sinh 456), ban đầu là Lịch Dương vương (lập năm 460), sau là Lâm Hải vương (lập năm 461, bị buộc tự sát năm 466)
  • Lưu Tử Loan (劉子鸞) (sinh 456), ban đầu là Tương Dương vương (lập năm 460), sau là Tân An vương (lập năm 460, bị buộc tự sát năm 465), được truy thụy hiệu là Thủy Bình Hiếu Kính vương
  • Lưu Tử Nhân (劉子仁) (sinh 457), Vĩnh Gia vương (lập năm 461, bị buộc tự sát năm 466)
  • Lưu Tử Phượng (劉子鳳), mất sớm
  • Lưu Tử Chân (劉子真) (sinh 457), Thủy An vương (lập năm 461, bị buộc tự sát năm 466)
  • Lưu Tử Huyền (劉子玄), mất sớm
  • Lưu Tử Nguyên (劉子元) (b. 458), Thiệu Lăng vương (lập năm 462, bị buộc tự sát năm 466)
  • Lưu Tử Vũ (劉子羽) (458-459), được truy thụy là Tề Kính vương
  • Lưu Tử Hành (劉子衡), mất sớm
  • Lưu Tử Mạnh (劉子孟) (sinh 459), Hoài Nam vương (lập năm 463, bị buộc tự sát năm 466)
  • Lưu Tử Huống (劉子況), mất sớm
  • Lưu Tử Sản (劉子產), ban đầu là Lâm Hạ vương, sau là Nam Bình vương (lập năm 465, bị hành quyết năm 466)
  • Lưu Tử Cân (劉子雲) (sinh 459), Tấn Lăng Hiếu vương (lập và mất năm 462)
  • Lưu Tử Văn (劉子文), mất sớm
  • Lưu Tử Dư (劉子輿), ban đầu là Tấn Hi vương, sau là Lư Lăng vương (lập năm 465, bị hành quyết năm 466)
  • Lưu Tử Sư (劉子師) (sinh 460), Nam Hải Ai vương (lập năm 463, bị buộc tự sát năm 465)
  • Lưu Tử Tiêu (劉子霄) (461-464), được truy thụy hiệu là Hoài Dương Tư vương
  • Lưu Tử Ung (劉子雍), mất sớm
  • Lưu Tử Xu (劉子趨) (bị hành quyết năm 466)
  • Lưu Tử Kỳ (劉子期) (bị hành quyết năm 466)
  • Lưu Tử Tự (劉子嗣) (sinh 463), Đông Bình vương (lập năm 463, bị buộc tự sát năm 466)
  • Lưu Tử Duyệt (劉子悅) (bị hành quyết năm 466)
Nữ
  • Sơn Âm công chúa (thời Tiền Phế Đế là Hội Kê Trưởng công chúa) Lưu Sở Ngọc (劉楚玉), bị buộc tự sát năm 466
  • An Cố công chúa
  • Lâm Nhữ công chúa
  • An Cát công chúa
  • Lâm Hoài công chúa Lưu Sở Bội (劉楚珮)
  • Hoàng nữ Lưu Sở Tú (劉楚琇)
  • Khang Lạc công chúa Lưu Tu Minh (劉修明)
  • Huyện công chúa, bị Tiền Phế Đế buộc phải tự sát

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]