Long Đỗ

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Đền Bạch Mã, một trong Thăng Long tứ trấn, ngôi đền chính thờ thần Long Đỗ.

Long Đỗ (龍肚) hay Long Độ, còn được gọi là thần Bạch Mã (白馬), là vị Thành hoàng đất Thăng Long, được thờ ở đền Bạch Mã, trấn phía Đông trong Thăng Long tứ trấn, cũng như nhiều đình, đền khác. Long Đỗ (có nghĩa là "rốn rồng", cũng chính là núi Nùng trong truyền thuyết), còn được dùng để chỉ đất Thăng Long-Hà Nội xưa[1]. Thần núi Long Đỗ, nơi tiếp nhận khí thiêng sông núi của đất kinh thành Thăng Long[2][3], là vị thần bảo hộ cho nhân dân Thăng Long được an cư lạc nghiệp[4].

Với Cao Biền[sửa | sửa mã nguồn]

Hai cuốn sách cổ Lĩnh Nam chích quáiViệt điện u linh tập đã ghi chép lại sự tích về thần Long Độ (Long Đỗ), trong đó nhắc đến đoạn với Cao Biền như sau:

Khi xưa, Cao Biền đời nhà Đường được cử sang cai trị Giao Châu, cho đắp thành Đại La. Một hôm[5], Biền đang vẩn vơ dạo ngoài cửa đông thành, bỗng thấy mưa to gió lớn, rồi một đám mây ngũ sắc bốc lên từ mặt đất, tụ lại ở trên không, tia sáng bốc lên chói mắt, khí trời trở nên lạnh lẽo. Giữa đám mây, thấy hiện ra một người "đầu đội mão xích hoa, thân mặc áo tử hà, xiêm là, giày đỏ, bay lượn ở trong mây mù, hương lạ thơm lừng, đàn sáo hợp tấu, lững lờ uyển chuyển, lúc thấp lúc cao, lâu ước độ hai khắc rồi bỗng nhiên tan mất"[6][7]. Cao Biền kinh dị, cho là yêu quái. Đêm hôm ấy, Biền mộng thấy người gặp lúc ban ngày, đến bảo rằng: "Ta là Long Độ vương khí quân, thấy ông mở rộng kinh thành thì đến xem chơi, chớ có ngờ". Biền tỉnh dậy than: "Ta không biết làm chính trị nên quỷ thần vượt mặt ta, sự này là điềm lành hay điểm gở?". Có người khuyên Cao Biền dựng đền, đắp tượng thờ rồi lấy một nghìn cân sắt, đồng làm bùa trấn yểm, Biền làm y như vậy. Bỗng một trận cuồng phong nổi lên quật đổi cây to, tung đất, làm tất cả đồng sắt trấn yếm đều biến thành tro bụi. Biền than thở: "Ta phải về Bắc thôi", sau quả nhiên như thế[8].

Thành hoàng Thăng Long[sửa | sửa mã nguồn]

Đến đời Lý Thái Tổ, khi vua dời đô về Đại La và đổi tên thành Thăng Long (1010), muốn mở rộng phủ thành nhưng đắp thành xong đều bị lở, bèn cử người tới cầu thần. Đêm đó, vua nằm mộng thấy thần đến chúc mừng rồi dặn nhà vua cứ theo dấu vó ngựa đắp. Có con ngựa trắng từ đền đi ra, đi theo hướng Tây, vòng về hướng Đông, trở về điểm xuất phát rồi biến vào đền. Nhà vua y lời thần, bèn cho đắp thành xây lũy theo vết chân ngựa để lại, xây đến đâu chắc đến đấy. Lý Thái Tổ sai tạc một con ngựa trắng để thờ[1] và ban sắc phong cho thần làm Quốc đô Định bang Thành hoàng đại vương, tức Thành hoàng của cả thành Thăng Long. Ngôi đền này vì thế cũng được gọi là đền Bạch Mã.

Đến đời Lý Thái Tông, cho mở phố chợ về Cửa Đông, dân cư buôn bán tấp nập, chen chúc huyên náo sát tới tận bên đền. Vua muốn dời đền đến chỗ thanh tịnh khác, nhưng rồi lại bảo: "Xưa lập ở đây, nay không nên dời đi chỗ khác"; mới đem sửa sang lại đền, liền với các nhà ngoài phố, nhưng vẫn để một khoảng làm nơi thờ thần. Đến đêm, thần hiển linh nổi trận gió bấc rất to, cả dãy phố đều đổ, duy chỉ có đền thờ thần vẫn nguyên vẹn. Vua lấy làm lạ hỏi, có người biết, tâu lại chuyện hiển linh của thần từ trước. Vua mừng nói: "Đó thật là vị thần coi việc nhân gian"[9], xuống chiếu cho sửa lễ tế đền, cho thần hưởng lộc: cứ đến mùa xuân lại đến làm lễ cầu phúc. Vua lại sắc phong thần làm Quảng Lợi vương. Ở phố chợ Cửa Đông, ba lần phát hỏa, các nhà trong phố đều bị cháy, duy chỉ có chỗ đền thờ thần, lửa không bao giờ lấn tới. Thượng tướng Thái sư Trần Quang Khải có bài thơ đề tặng, hiện vẫn còn ở biển gỗ thờ tại đền[1][9]:

Tích văn hách trạc Đại vương linh,
Kim nhật phương tri quỷ mị kinh.
Hoả bắc tam khu thiêu bất tận,
Phong lôi nhất trận phiến nan khuynh.
Chỉ huy vọng lượng tam thiên chúng,
Hô hấp tiễu trừ bách vạn binh.
Nguyện trượng dư uy thanh Bắc khấu,
Đôn linh vũ trụ lạc thăng bình.
Đại vương xưa nức tiếng oai linh
Nay mới hay rằng ma quỷ kinh
Lửa tụ ba khu không cháy miếu
Gió lay một trận chẳng nghiêng mình
Khiến sai bọn quỷ ba nghìn đứa
Đánh dẹp loài ma trăm vạn binh
Nhờ cậy dư uy trừ giặc Bắc
Giúp ngay đất nước được thanh bình
(Trần Lê Văn dịch)

Niên hiệu Trùng Hưng năm đầu, lại sắc phong hai chữ Thánh hựu. Năm Hưng Long thứ hai mươi mốt, gia phong hai chữ Phu ứng, tấn tước Đại vương, phẩm trật Thượng tướng Thái sư. Sách Lĩnh Nam chích quái viết: "Đời Trần phong làm Thuận Dụ tự ứng đại vương. Chùa ở phường Hà Khẩu huyện Thọ Xương nay gọi là đền Bạch Mã". Sách Đại Nam nhất thống chí (quyển 13) khi giới thiệu về đền miếu của Hà Nội, đã dẫn sách Việt điện u linh tập của Lý Tế Xuyên, còn viết rằng: "Các vua đời sau cũng theo đó mà phong tới Bạch Mã Quảng Lợi Tối linh Thượng đẳng thần"[10].

Văn bia Trùng tu Bạch Mã miếu bi ký, niên đại Minh Mệnh nguyên niên (1820), hiện còn tại đền có ghi rằng: "Ngài là vị Thành hoàng của kinh thành Thăng Long… Thần một thôn, một ấp đều được tôn kính, huống đây là vị thần chủ tể một khu vực ngàn dặm, được hàng trăm đời vua cúng tế. Các công lao ban phúc cho đất nước, giúp đỡ cho nhân dân, trong đó, cả đô thành và lân ấp đều được nhờ cậy"[11].

Một trong những câu đối còn tại đền đã khái quát khá tiểu biểu công ơn của thần Bạch Mã[9]:

Phù quốc lộ ư La Thành, vạn cổ uy thanh truyền mã tích
Ngật tôn từ vu giang tứ, thiên thu vượng khí trấn Long Biên

Tạm dịch:

Giúp nước thịnh ở La Thành, muôn thuở uy danh truyền dấu ngựa
Bến sông nước, nghìn năm vượng khí giữ Long Biên

Tên gọi[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các văn bản cổ, đặc biệt là Việt điện u linhLĩnh Nam chích quái có sự không thống nhất về tên gọi của thần, cụ thể là "Long Đỗ" và "Long Độ", "Quảng Lợi" và "Quảng Lại". Trong sáu bản Việt điện u linh lưu tại Viện nghiên cứu Hán Nôm, tên gọi của thần trong truyện "Quảng Lợi thánh hựu uy tế phu ứng đại vương"[12] có năm bản ghi là "Long Độ", có một bản là "Long Đỗ', và tất cả các bản ghi là "Quảng Lợi". Ngược lại, trong 7 trên chín bản Lĩnh Nam chích quái lưu tại Viện có chép "Long Đỗ vượng khí truyện" hay "Long Đỗ chính khí thần truyện"[13], tất cả đều ghi là "Long Đỗ", có một bản chép là "Quảng Lợi", một bản chép là "Quảng Lại".

Về sự khác biệt này, các nhà nghiên cứu ở Việt Hán Nôm dựa vào sách Trấn Vũ quán lục, thấy rằng "Long Độ" vốn là tên đất Long Biên vào cuối đời Hùng Vương, Sĩ Nhiếp khi làm Thái thú Giao Châu, được phong tước "Long Độ đình hầu". Họ cho rằng Long Độ là tên gọi gốc, đến đời nhà Trần, do có lệ kiêng húy tên Thái sư Trần Thủ Độ nên mới đổi thành "Long Đỗ". Cũng như vậy, sang thời Lê, theo sách Bạch Mã thần từ khảo chính, "vì kiêng húy Thái Tổ là Lê Lợi mà đổi chữ "Lợi" trong "Quảng Lợi" thành chữ "Lại" trong "Quảng Lại" vậy"[1].

Tuy đổi tên vì kiêng húy, nhưng ý nghĩa của những chữ này đều có thể thay thế cho nhau. "Long Độ" là tên gọi của đất Hà Nội xưa, "Long Đỗ" nghĩa là bụng rồng, nghĩa lại càng gần gũi với đất Thăng Long được mang tên từ thời Lý Thái Tổ. "Quảng Lợi" có thể hiểu là "làm lợi rộng khắp", đổi sang chữ Lại có nghĩa là "chỗ dựa", lại càng làm bật rõ được ý nghĩa của thần Bạch Mã, là vượng khí đất Long Độ, là chỗ dựa phù hộ cho nước cho dân[1].

Về cơ bản các tên gọi đều muốn chỉ đến rốn rồng- là nơi mà Đất và Trời gặp nhau, là trung tâm của vũ trụ - theo quan điểm phương Đông, bụng có một vai trò quan trọng như tim trong quan điểm của phương Tây

Với thần Tô Lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Trong Lĩnh Nam chích quái cũng như trong tín ngưỡng dân gian từ lâu[14], thường đồng hóa hai vị thần của núi Nùng (Long Đỗ) và vị thần của sông Tô Lịch (Tô Lịch) lại làm một. Trong Tô Lịch giang thần truyện của Lĩnh Nam chích quái đã chép lại truyện thần sông Tô Lịch, trong đó có đoạn sau:

Trong phần mở đầu của cuốn sách này, Vũ Quỳnh còn viết: "Tô Lịch là thần đất Long Đỗ, Xương Cuồng là thân cây chiên đàn, một đằng thì lập đàn tế lễ, dân được hưởng phúc, một đằng thì dùng trò vui mà trừ, dân được thoát hoa, việc tuy kì dị mà không quái đản, văn tuy thần bì mà không nhảm nhí, tuy có phần hoang đường mà tông tích vẫn có phần bằng cứ, há chẳng phải chỉ cốt khuyên điều thiện, răn điều ác, bỏ giả theo thật để khuyến khích phong tục mà thôi ư?", cho thấy việc đồng hóa hai vị thần Tô Lịch và Long Đỗ. Một số phiên bản của Lĩnh Nam chích quái cũng chép đoạn sau của truyện này, kể chuyện khi Lý Thái Tổ dời đô, thần Tô Lịch thác mộng chúc mừng vua và cũng được vua phong là "Đô quốc Thành hoàng đại vương", tức Thành hoàng của Thăng Long.

Ngược lại, trong cuốn sách Việt điện u linh của Lý Tế Xuyên lại coi hai vị thần sông Tô Lịch và thần đất Long Đỗ là hai vị khác nhau, chép ở hai truyện riêng là "Bảo quốc Trấn linh Định bang Quốc đô thành hoành đại vương" và "Quảng Lợi thánh hựu uy tế phu ứng đại vương". Ngoài ra có ngôi đình ở Hà Nội như đình Tân Khai lại thờ riêng cả hai vị thần Tô Lịch và Bạch Mã[15].

Theo quan điểm của nhà nghiên cứu Lê Văn Lan thì cũng cho rằng thần Tô Lịch và thần Long Đỗ là một. Ông cho rằng tên gốc của thần là Tô Lịch, vốn là vị già làng của một thôn làng bên bờ sông Tô, một "làng Hà Nội gốc", được gọi là "hương Long Đỗ"[16]:

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â b c Mai Hồng, "Về vị thần thờ ở Đền Bạch Mã phố Hàng Buồm, Hà Nội", Viện Hán Nôm. Truy cập 2008-12-03.
  2. ^ S.T. "Thăng Long có bốn vị thần", Báo Kinh tế & Đô thị. Truy cập 2008-12-04.
  3. ^ "Thăng long tứ trấn", trang thành phố Hà Nội. Truy cập 2008-12-04.
  4. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên bktt
  5. ^ Theo sách Việt điện u lịnh tập của Lý Tế Xuyên (bản dịch của Lê Hữu Mục) thì đó là vào buổi trưa, còn trong Lĩnh Nam chích quái lại vào buổi sáng sớm.
  6. ^ Lý Tế Xuyên, "Quảng Lợi thánh hựu uy tế phu ứng đại vương" trong Việt điện uy linh tập, bản dịch của Lê Hữu Mục. Truy cập 2008-12-03.
  7. ^ Theo Lĩnh Nam chích quái thì miêu tả Long Đỗ là "áo màu sặc sỡ, trang sức trông kỳ vĩ, cưỡi con rồng đỏ, tay cầm giản vàng, lơ lửng trong mây khói, khí thế ngùn ngụt, bay lên lượn xuống hồi lâu mới tan."
  8. ^ Theo Lĩnh Nam chích quái, chép: "Có người khuyên lập đàn, và dùng nghìn cân sắt đúc tượng theo hình dạng thần nhân để làm bùa yểm. Biền y theo kế đó. Vừa đọc thần chú bỗng trời đất mù mịt ngày đêm, mưa gió giật đùng đùng, tượng sắt nát vụn ra mà bay lên không. Biền sợ hãi, có ý muốn về phương Bắc. Người đời lấy làm lạ, bèn lập chùa ở mạn phía đông kinh thành."
  9. ^ a ă â Vũ Khiêu (chủ biên - 2004). Danh nhân Hà Nội, Nhà xuất bản Hà Nội, tr. 681-683.
  10. ^ Nguyễn Khắc Thuần, "Sự tích đền Bạch Mã" trong Việt sử giai thoại, Nhà xuất bản Giáo dục. Truy cập 2008-12-04.
  11. ^ Nguyễn Đức Vượng, "Đền Bạch Mã", trang quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Truy cập 2008-12-04.
  12. ^ Có bản chép là "Quảng Lợi đại vương" hay "Quảng Lợi hựu thiên đại vương".
  13. ^ Hai bản còn lại không chép về truyện thần Bạch Mã.
  14. ^ "Hà Nội nửa đầu thế kỷ 20", trang thành phố Hà Nội. Truy cập 2008-12-04.
  15. ^ Nguyễn Thị Thanh, "Các vị thần thờ trong Đình Tân Khai", trang quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Truy cập 2008-12-04.
  16. ^ Lê Văn Lan, "Về ba kiến trúc liên quan đến thời định đô Thăng Long, Tạp chí Kiến trúc. Truy cập 2008-12-04.