Máy gia tốc hạt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sơ đồ máy gia tốc hạt vòng xuyến SOLEIL tại ngoại ô Paris

Máy gia tốc hạt (máy gia tốc hạt nhân, máy gia tốc hạt cơ bản) là các thiết bị sử dụng các năng lượng bên ngoài truyền cho các hạt nhằm tăng vận tốc và do đó, năng lượng của hạt chuyển động.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Máy gia tốc hạt đầu tiên dạng Cyclotron đặt tại Đại học California tại Berkeley năm 1929 bởi Ernest Lawrence

Phân loại[sửa | sửa mã nguồn]

Trong các máy gia tốc thẳng, các hạt điện tích được tăng tốc nhờ lực điện mạnh. Chẳng hạn trong máy gia tốc có chiều dài 4 km của phòng thí nghiệm Stanford, các electron được gia tốc đến năng lượng đạt giá trị 50 GeV.

Trong các máy gia tốc tròn, hạt điện tích chuyển động theo các quỹ đạo tròn dưới một từ trường đều có hướng vuông góc với vận tốc hạt. Đồng thời nằm trong một hộp hình tròn gồm hai nửa hộp rỗng hình chữ D nối vào một hiệu điện thế xoay chiều. Tất cả đều nằm trong chân không. Khi đó, điện trường xoay chiều giữa hai hình D có tác dụng tăng tốc cho hạt trong quá trình chuyển động: Vận tốc hạt ngày càng tăng lên cùng với bán kính quỹ đạo. Khi động năng của hạt tăng lên đến giá trị đủ lớn thì người ta cho chùm bắn vào một tấm "bia" để tạo ra cac phản ứng hạt nhân.

Máy gia tốc lớn nhất trên thế giới

  • Là máy gia tốc có chu vi 21 km, chôn sâu 100 m dưới lòng đất tại khu vực biên giới Pháp - Thụy Sĩ. Máy gia tốc có tên là Large Hadron Collider <viết tắt là LHC> được chế tạo bởi Tổ chức nghiên cứu nguyên tử hạt nhân Châu Âu<CERN> và nó được xây dựng từ năm 1983-1988. Chia sẻ với ông Crest Odfocx, người đã phát minh ra cỗ máy,ông nói: đây chính là cỗ máy lớn nhất thế giới và nó chính là một công cụ của nhà khoa học nhằm cung cấp cho các nhà khoa học một mô hình chuẩn,giải thích về "Hạt của chúa"<hạt Higgs>.Ngoài ra, nó còn cung cấp những lý thuyết mới về vật lý hạt.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]