Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2017

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2017
Bản đồ tóm lược mùa bão
Lần đầu hình thành 7 tháng 1 năm 2017
Lần cuối cùng tan Chưa kết thúc
Bão mạnh nhất Noru – 930 hPa (mbar), 185 km/h (115 mph) (duy trì liên tục trong 10 phút)
Áp thấp nhiệt đới 33 (chính thức), 0 (không chính thức)
Tổng số bão 21
Bão cuồng phong 9
Siêu bão cuồng phong 1 (không chính thức)
Số người chết 245
Thiệt hại $6.8 tỉ (USD 2017)
Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương
2015, 2016, 2017, 2018, 2019

Mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương 2017 là một sự kiện mà theo đó các xoáy thuận nhiệt đới hình thành ở vùng phía Tây Bắc của Thái Bình Dương trong năm 2017, chủ yếu từ tháng 5-12. Mùa bão tính đến thời điểm này diễn biến tương đối bất thường với quỹ đạo các cơn bão lệch nhiều về phía Tây. Hiện đã có tổng cộng 33 ATNĐ trong số đó có 21 cơn mạnh lên thành bão, hơn một nửa đã đi vào biển Đông. Cho đến thời điểm hiện tại mùa bão 2017 diễn biến khá giống mùa bão các năm 1971, 1984, 1999. Mùa bão 2017 ghi nhận số xoáy thuận nhiệt đới nhiều nhất trong tháng 7 (12 cơn bão) kể từ năm 1994. Ngày Noru mạnh lên cấp bão cuồng phong (23/7) là thời điểm muộn nhất trong lịch sử các mùa bão Tây Bắc Thái Bình Dương (kể từ năm 1998, trong vòng 19 năm qua) xuất hiện cơn bão cuồng phong đầu tiên.

Lần đầu tiên trên biển Đông ghi nhận 4 cơn bão trong tháng 7 kể từ năm 1971. Lần đầu tiên từ năm 2002, cả 5 cơn bão đầu tiên (trên biển Đông) đều mạnh lên thành bão ngay trên biển Đông. Mùa bão 2017 là lần đầu tiên kể từ năm 1971, có 2 cơn bão vào miền Trung Việt Nam trong tháng 7 (Talas và Sơn Ca); và không có cơn bão nào đổ bộ Bắc Bộ (tính đến thời điểm này), lần đầu tiên kể từ năm 2006. Các tỉnh Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa - Quảng Bình) lần đầu tiên ghi nhận bão đổ bộ trực tiếp kể từ sau cơn bão Wutip năm 2013.

Tóm lược[sửa | sửa mã nguồn]

  1. Nhận định chung: Tính đến thời điểm này, số lượng bão trên Tây Bắc Thái Bình Dương là 21 cơn bão, trong đó hơn một nửa đã đi vào biển Đông (11 cơn bão và ATNĐ). Quỹ đạo của chúng cũng bị lệch nhiều về phía Tây, tác động chủ yếu đến Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam. Trong đó, đến 7/19 cơn bão đã đổ bộ vào Trung Quốc (tập trung ở miền Nam), 3 cơn bão vào Việt Nam (tập trung ở Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị; mỗi tỉnh một cơn bão), 3 cơn bão vào Nhật Bản. Cho đến thời điểm này mùa bão năm 2017 diễn biến khá giống các năm 1971, 1984, 1999. Có 11 ATNĐ hình thành trên vùng, trong đó có 3 trên biển Đông và chỉ có 3/11 ATNĐ tác động đến đất liền tập trung ở Philippines. Dù tính đến thời điểm này được xem là nhiều bão (19 cơn bão) song chúng rất yếu, chỉ có 1 siêu bão cuồng phong và 9 bão cuồng phong.
  2. Dự báo phần còn lại của mùa bão: Việc quỹ đạo bão Tây Bắc Thái Bình Dương lệch quỹ đạo nhiều về Tây, bão sớm vào tháng 7 ở Trung Bộ đồng thời khu vực Bắc Đại Tây Dương có một mùa bão hoạt động mạnh hơn bình thường, điều này dường như lại báo hiệu La Nina sắp quay trở lại trong mùa Đông 2017-2018. Ngày 14/9/2017, NOAA (Cục Khí quyển và Đại dương Hoa Kỳ) đưa ra cảnh báo, La Nina có khả năng quay trở lại trong mùa Đông 2017/18. Các mô hình thời tiết của Hoa Kỳ đến thời điểm này đã nhận định xác suất La Nina xảy ra lên đến trên 60%, hình thành trong các tháng 10-11/2017 và cũng dự báo La Nina này sẽ mạnh hơn hẳn đợt La Nina yếu diễn ra vào cuối năm 2016 đầu năm 2017. Điều này lại càng khiến bão trên Tây Bắc Thái Bình Dương di chuyển nhiều hơn theo hướng Tây, tác động đến Philippines, Việt Nam. Ngoài ra La Nina khiến cho gió mùa Đông Bắc hoạt động mạnh hơn, chính vì vậy mà càng về cuối mùa bão thì số bão hoạt động sẽ ít hơn so với trung bình. Dự báo từ nay đến cuối năm, trên Tây Bắc Thái Bình Dương còn khoảng 4-6 cơn bão, trong đó trên biển Đông còn 2-3 cơn bão, ảnh hưởng đến nước ta khoảng 1-2 cơn bão tập trung ở các tỉnh từ Quảng Trị trở vào đến hết Nam Bộ.

Danh sách bão[sửa | sửa mã nguồn]

Áp thấp nhiệt đới 01W (Auring)[sửa | sửa mã nguồn]

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 7 tháng 1 – 16 tháng 1
Cường độ mạnh nhất 55 km/h (35 mph) (duy trì 10 phút)  1002 mbar (hPa)

Cấp bão (Việt Nam): Cấp 6 - Áp thấp nhiệt đới

Cấp bão (Nhật Bản): 30kts - Áp thấp nhiệt đới, áp suất 1002 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 30kts - Áp thấp nhiệt đới

Cấp bão (Philippines): Áp thấp nhiệt đới

Áp thấp nhiệt đới Bising[sửa | sửa mã nguồn]

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Thời gian hoạt động 3 tháng 2 – 7 tháng 2
Cường độ mạnh nhất 55 km/h (35 mph) (duy trì 10 phút)  1000 mbar (hPa)

Cấp bão (Nhật Bản): 30kts - Áp thấp nhiệt đới, áp suất 1000 hPa (mbar)

Cấp bão (Philippines): Áp thấp nhiệt đới

Áp thấp nhiệt đới 02W (Crising)[sửa | sửa mã nguồn]

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 13 tháng 4 – 20 tháng 4
Cường độ mạnh nhất 55 km/h (35 mph) (duy trì 10 phút)  1000 mbar (hPa)

Cấp bão (Việt Nam): Cấp 6 - Áp thấp nhiệt đới

Cấp bão (Nhật Bản): 35kts - Áp thấp nhiệt đới, áp suất 1000 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 30kts - Áp thấp nhiệt đới

Cấp bão (Philippines): Áp thấp nhiệt đới

Bão Muifa (Dante)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 23 tháng 4 – 29 tháng 4
Cường độ mạnh nhất 65 km/h (40 mph) (duy trì 10 phút)  1002 mbar (hPa)

Cấp bão (Nhật Bản): 40kts - Bão nhiệt đới, áp suất 1002 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 35kts - Bão nhiệt đới

Cấp bão (Philippines): Bão nhiệt đới

Bão Merbok - Bão số 1[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới dữ dội (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 10 tháng 6 – 13 tháng 6
Cường độ mạnh nhất 100 km/h (65 mph) (duy trì 10 phút)  985 mbar (hPa)

Cấp bão (Việt Nam): Cấp 9 - Bão nhiệt đới

Cấp bão (Nhật Bản): 55kts - Bão nhiệt đới dữ dội, áp suất 985 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 45kts - Bão nhiệt đới

Bão Nanmadol (Emong)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới dữ dội (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 1 tháng 7 – 4 tháng 7
Cường độ mạnh nhất 100 km/h (65 mph) (duy trì 10 phút)  985 mbar (hPa)

Cấp bão (Nhật Bản): 50kts - Bão nhiệt đới dữ dội, áp suất 985 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 50kts - Bão nhiệt đới

Cấp bão (Philippines): Bão nhiệt đới

Bão Talas - Bão số 2[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới dữ dội (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 14 tháng 7 – 17 tháng 7
Cường độ mạnh nhất 95 km/h (60 mph) (duy trì 10 phút)  985 mbar (hPa)

Cấp bão (Việt Nam): Cấp 10 - Bão nhiệt đới dữ dội

Cấp bão (Nhật Bản): 50kts - Bão nhiệt đới dữ dội, áp suất 985 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 50kts - Bão nhiệt đới

  • Talas - Bão số 2 là một cơn bão trái mùa đổ bộ vào Bắc Trung Bộ (vào lúc 1h sáng ngày 17/7 vào Bắc Hà Tĩnh, rìa tâm bão sượt qua Vinh - Nghệ An[1]) sau suy yếu vẫn tồn tại lâu trên đất liền trôi dạt qua Lào, Thái Lan sang Myanmar rồi mới tan hẳn, gây thiệt hại tương đối nặng nề cho Việt Nam và Lào.
  • Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương Việt Nam đã thêm vùng bị ảnh hưởng của cơn bão số 2 - Talas là cấp độ rủi ro thiên tai do bão, lũ, lũ quét, gió mạnh ở vùng biển phía Nam bậc cấp 1-2.
  • Talas là bão đầu tiên đổ bộ vào Bắc Trung Bộ sau 3 năm 2014, 2015 và 2016 không phải hứng bất kỳ một cơn bão hay áp thấp nhiệt đới nào.

Bão Noru[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Siêu bão cuồng phong cấp 5 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 19 tháng 7 – 8 tháng 8
Cường độ mạnh nhất 185 km/h (115 mph) (duy trì 10 phút)  930 mbar (hPa)

Cấp bão (Nhật Bản): 100kts - Bão cuồng phong, áp suất 930 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 140kts - Siêu bão cuồng phong cấp 5

Cấp bão (Hồng Kông - Trung Quốc): 185 km/h (52 m/s) - Siêu bão cuồng phong

  • Ngày Noru lên bão cuồng phong (23/7) là thời điểm muộn nhất trong lịch sử vùng Tây Bắc Thái Bình Dương có bão cuồng phong kể từ năm 1998 (trong vòng 19 năm qua).

Bão Kulap[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 19 tháng 7 – 26 tháng 7
Cường độ mạnh nhất 75 km/h (45 mph) (duy trì 10 phút)  1002 mbar (hPa)

Cấp bão (Nhật Bản): 40kts - Bão nhiệt đới, áp suất 1002 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 45kts - Bão nhiệt đới

  • Bão Kulap bị bão Noru hoạt động mạnh nhất khi bị bão Kulap hút mây và suy yếu đi.

Bão Roke (Fabian) - Bão số 3[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 21 tháng 7 – 23 tháng 7
Cường độ mạnh nhất 65 km/h (40 mph) (duy trì 10 phút)  1002 mbar (hPa)

Cấp bão (Việt Nam): Cấp 8 - Bão nhiệt đới

Cấp bão (Nhật Bản): 35kts - Bão nhiệt đới, áp suất 1002 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 35kts - Bão nhiệt đới

Cấp bão (Philippines): Bão nhiệt đới

  • Roke và Sơn Ca là 2 cơn bão nhiệt đới tách rời, nhìn khá giống bão nhiệt đới dữ dội.

Bão Sonca - Bão số 4[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 21 tháng 7 – 25 tháng 7
Cường độ mạnh nhất 65 km/h (40 mph) (duy trì 10 phút)  994 mbar (hPa)

Cấp bão (Việt Nam): Cấp 8 - Bão nhiệt đới

Cấp bão (Nhật Bản): 35kts - Bão nhiệt đới, áp suất 994 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 45kts - Bão nhiệt đới

  • Sơn Ca - Bão số 4 là một cơn bão trái mùa đổ bộ vào Trung Trung Bộ (Phía Bắc Quảng Trị - Vào lúc 15h chiều ngày 25/7). Tuy không gây thiệt hại nặng ở Việt Nam song hoàn lưu bão tồn tại đến ngày 29/7 mới tan trên khu Đông Bắc Thái Lan gây lũ lụt làm 23 người chết.

Bão Nesat (Gorio)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 1 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 25 tháng 7 – 30 tháng 7
Cường độ mạnh nhất 150 km/h (90 mph) (duy trì 10 phút)  960 mbar (hPa)

Cấp bão (Nhật Bản): 80kts - Bão cuồng phong, áp suất 960 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 80kts - Bão cuồng phong cấp 1

Cấp bão (Hồng Kông - Trung Quốc): 150 km/h (42 m/s) - Bão mạnh

Cấp bão (Philippines): Bão nhiệt đới dữ dội

Bão Haitang (Huaning) - Bão số 5[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 29 tháng 7 – 1 tháng 8
Cường độ mạnh nhất 85 km/h (50 mph) (duy trì 10 phút)  985 mbar (hPa)

Cấp bão (Việt Nam): Cấp 9 - Bão nhiệt đới

Cấp bão (Nhật Bản): 45kts - Bão nhiệt đới, áp suất 985 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 35kts - Bão nhiệt đới

Cấp bão (Hồng Kông - Trung Quốc): 85 km/h (23 m/s) - Bão nhiệt đới

Cấp bão (Philippines): Bão nhiệt đới

  • Nesat và Haitang là 2 cơn bão liên tiếp trong 2 ngày đổ bộ vào Đài Loan lần đầu tiên trong 50 năm qua. Hai cơn bão cũng cùng đổ bộ vào một địa điểm ở Trung Quốc (Phúc Thanh - Phúc Kiến) chỉ trong 2 ngày liên tiếp.

Bão Nalgae[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 31 tháng 7 – 6 tháng 8
Cường độ mạnh nhất 85 km/h (50 mph) (duy trì 10 phút)  990 mbar (hPa)

Cấp bão (Nhật Bản): 35kts - Bão nhiệt đới, áp suất 990 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 35kts - Bão nhiệt đới

Bão Banyan[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 2 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 12 tháng 8 – 17 tháng 8
Cường độ mạnh nhất 140 km/h (85 mph) (duy trì 10 phút)  975 mbar (hPa)

Cấp bão (Nhật Bản): 80kts - Bão cuồng phong, áp suất 975 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 81kts - Bão cuồng phong cấp 2

Bão Hato (Isang) - Bão số 6[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 3 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 20 tháng 8 – 24 tháng 8 (đi vào Khu Vực Bắc Ấn Độ Dương)
Cường độ mạnh nhất 150 km/h (90 mph) (duy trì 10 phút)  960 mbar (hPa)

Cấp bão (Việt Nam): Cấp 14 - Bão cuồng phong

Cấp bão (Nhật Bản): 80kts - Bão cuồng phong, áp suất 960 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 100kts - Bão cuồng phong cấp 3

Cấp bão (Hồng Kông - Trung Quốc): 110 km/h (30 m/s) - Bão mạnh

Cấp bão (Philippines): Bão nhiệt đới dữ dội

  • Một khu vực áp suất thấp đã phát triển thành một áp thấp nhiệt đới vào ngày 19 tháng 8 trong khi nằm ở phía Đông Nam của Đài Loan.[2]
  • Nó dần dần gia tăng và đạt đến mức tình trạng bão nhiệt đới dữ dội vào chiều ngày 22 tháng 8 sau khi đi vào vùng Đông Bắc của Biển Đông. Vào ngày 23 tháng 8, 07:00 (Giờ Hồng Kông - HKT), Hato cách Hồng Kông khoảng 100 km về phía Đông Nam, đưa mưa đến lục địa của Trung Quốc cũng như Hải Nam về phía Tây. Vào lúc 11 giờ (Giờ Hồng Kông - HKT), tâm bão đã trực tiếp đổ bộ Hồng Kông sau đó cơn bão đi thẳng vào lục địa Trung Quốc theo hướng Tây-Tây Bắc.[3] Đài quan sát Hồng Kông đã ban hành tín hiệu bão số 10 (mức cao nhất) vào lúc 09:10 (Giờ Hồng Kông - HKT), lần đầu tiên kể từ năm 2012. Tính đến ngày 25 tháng 8, tổng cộng 17 người đã thiệt mạng trong khi tổng số thiệt hại lên đến 12,5 tỷ Nhân Dân tệ (tương đương với khoảng 1,87 tỷ USD).[4][5]

Bão Pakhar (Jolina) - Bão số 7[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới dữ dội (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 24 tháng 8 – 28 tháng 8
Cường độ mạnh nhất 110 km/h (70 mph) (duy trì 10 phút)  985 mbar (hPa)

Cấp bão (Việt Nam): Cấp 10~11 - Bão nhiệt đới dữ dội

Cấp bão (Nhật Bản): 55kts - Bão nhiệt đới dữ dội, áp suất 985 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 55kts - Bão nhiệt đới dữ dội

Cấp bão (Hồng Kông - Trung Quốc): 100 km/h (28 m/s) - Bão mạnh

Cấp bão (Philippines): Bão nhiệt đới

  • Bão Pakhar cũng nối đuôi Hato đổ bộ cùng một khu vực trong 4 ngày.

Bão Sanvu[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 2 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 28 tháng 8 – 3 tháng 9
Cường độ mạnh nhất 150 km/h (90 mph) (duy trì 10 phút)  955 mbar (hPa)

Cấp bão (Nhật Bản): 80kts - Bão cuồng phong, áp suất 955 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 90kts - Bão cuồng phong cấp 2

Bão Mawar - Bão số 8[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới dữ dội (JMA)
Bão nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 30 tháng 8 – 4 tháng 9
Cường độ mạnh nhất 95 km/h (60 mph) (duy trì 10 phút)  990 mbar (hPa)

Cấp bão (Việt Nam): Cấp 10 - Bão nhiệt đới dữ dội

Cấp bão (Nhật Bản): 50kts - Bão nhiệt đới dữ dội, áp suất 990 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 45kts - Bão nhiệt đới

Cấp bão (Hồng Kông - Trung Quốc): 90 km/h (23 m/s) - Bão nhiệt đới dữ dội

Bão Guchol (Kiko) - Bão số 9[sửa | sửa mã nguồn]

Bão nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 4 tháng 9 – 7 tháng 9
Cường độ mạnh nhất 65 km/h (40 mph) (duy trì 10 phút)  1000 mbar (hPa)

Cấp bão (Việt Nam): Cấp 8 - Bão nhiệt đới

Cấp bão (Nhật Bản): 35kts - Bão nhiệt đới, áp suất 1000 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 30kts - Áp thấp nhiệt đới

Cấp bão (Hồng Kông - Trung Quốc): 55 km/h (18 m/s) - Áp thấp nhiệt đới

Cấp bão (Philippines): Bão nhiệt đới

  • Cơn bão này chỉ đạt cấp bão nhiệt đới trong vòng 18h. Do nội lực bão quá yếu, bão nhanh chóng suy yếu. Tuy nhiên bão vẫn được gọi là cơn bão số 9 vì chờm vào biển Đông.
  • Tương tự với cơn bão số 4 - Rai vào ngày 11 tháng 9 cho đến ngày 13 tháng 9 năm 2016.

Bão Talim (Lannie)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 4 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 8 tháng 9 – 18 tháng 9
Cường độ mạnh nhất 175 km/h (110 mph) (duy trì 10 phút)  935 mbar (hPa)

Cấp bão (Việt Nam): Cấp 12 - Bão cuồng phong

  • Việt Nam công bố kết thúc thông tin về cơn bão Talim vào lúc 14h30 ngày 12/9.

Cấp bão (Nhật Bản): 100kts - Bão cuồng phong, áp suất 935 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 120kts - Bão cuồng phong cấp 4

Cấp bão (Hồng Kông - Trung Quốc): 195 km/h (52 m/s) - Siêu bão cuồng phong

Cấp bão (Philippines): Bão cuồng phong

Bão Doksuri (Maring) - Bão số 10[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 3 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 11 tháng 9 – 16 tháng 9
Cường độ mạnh nhất 150 km/h (90 mph) (duy trì 10 phút)  955 mbar (hPa)
Bài chi tiết: Bão Doksuri (2017)

Cấp bão (Việt Nam): Cấp 13 - Bão cuồng phong

Cấp bão (Nhật Bản): 80kts - Bão cuồng phong, áp suất 955 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 100kts - Bão cuồng phong cấp 3

Cấp bão (Hồng Kông - Trung Quốc): 165 km/h (48 m/s) - Bão rất mạnh

Cấp bão (Philippines): Bão nhiệt đới

  • Cơn bão số 10 được nhận định là cơn bão mạnh nhất trong thời gian vừa qua:
  • Doksuri cùng với Talas đổ bộ vào Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa - Quảng Bình) sau 3 năm 2014, 2015 và 2016 vùng này không phải hứng bất kỳ cơn bão nào.
  • Ngoài ra đây là cơn bão mạnh nhất đổ bộ vào Bắc Trung Bộ trong 28 năm vừa qua (kể từ cơn bão số 9 - Dan - cấp 12~13 vào ngày 13/10/1989 đổ bộ vào Kỳ Anh - Nghệ Tĩnh, nay thuộc tỉnh Hà Tĩnh).
  • Trưa ngày 15/9, bão số 10 đã đổ bộ vào các tỉnh Hà Tĩnh - Quảng Bình. Tâm bão đi vào phía Bắc tỉnh Quảng Bình (gần phía Nam đèo Ngang, đoạn thuộc huyện Quảng Trạch, gần mộ đại tướng Võ Nguyên Giáp).
  • Bão số 10 - Doksuri có diễn biến gần bờ, quỹ đạo và vùng đổ bộ gần như trùng khớp với bão số 5 - Lekima năm 2007 (đều mạnh lên gần sát bờ, quỹ đạo từ quần đảo Hoàng Sa vào bờ gần như giống hệt, cùng đổ bộ vào gần phía Nam đèo Ngang - phía Bắc Quảng Bình).
  • Bão số 10 này chỉ khác ở chỗ là mạnh hơn bão số 5 - Lekima vào năm 2007 (cách đây khoảng 10 năm). Cơn bão số 5 - Lekima này chỉ chừa khoảng 1 cấp so với cơn bão Doksuri (Lekima cấp 12, Doksuri cấp 13). Doksuri có nguồn gốc là một áp thấp nhiệt đới ngoài khơi Philippines (Lekima hình thành trên biển Đông).
  • Bão số 10 đánh dấu năm thứ 4 liên tiếp có bão đổ bộ Việt Nam trong khoảng thời gian từ ngày 13-16/9 (4 ngày giữa tháng 9).
  • Bão số 10 - Ở Việt Nam, Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương Việt Nam đã đạt ở mức cấp độ rủi ro thiên tai bậc cấp 4 (ở mức cảnh báo màu đỏ): Tức là mức rủi ro rất lớn, gần sát với mức nguy hiểm cao nhất khi mà lần đầu tiên từ năm 2017 đã đặt mức cấp độ rủi ro thiên tai bậc cấp 4 từ trước đến giờ.
  • Vào ngày 9/8/2017, Cổng thông tin nhân đạo quốc gia 1400 bắt đầu chương trình nhắn tin Vì đồng bào vùng lũ với cú pháp UH gửi 1409 (20.000 đồng/tin nhắn) để giúp đỡ người dân miền núi phía Bắc bị mưa lũ và miền Trung bị ảnh hưởng của cơn bão số 10 để ổn định cuộc sống.

Áp thấp nhiệt đới 22W (Nando)[sửa | sửa mã nguồn]

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 23 tháng 9 – 25 tháng 9
Cường độ mạnh nhất 55 km/h (35 mph) (duy trì 10 phút)  1000 mbar (hPa)

Cấp bão (Việt Nam): Cấp 6~7 - Áp thấp nhiệt đới

Cấp bão (Nhật Bản): 30kts - Áp thấp nhiệt đới. Nhật Bản công nhận là ATNĐ vào ngày 23/9 nhưng không phát cảnh báo về nó.

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 30kts - Áp thấp nhiệt đới, áp suất 1002 hPa (mbar)

Cấp bão (Hồng Kông - Trung Quốc): 55 km/h (16 m/s) - Áp thấp nhiệt đới

Cấp bão (Philippines): Áp thấp nhiệt đới

  • Chiều ngày 25/9, áp thấp nhiệt đới đã đổ bộ vào phía Nam tỉnh Quảng Ninh. Ở đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng) và Cô Tô (Quảng Ninh) đã có gió mạnh cấp 6, giật cấp 8; trên đất liền Quảng Ninh - Nam Định đã có gió giật cấp 6-7. Ở phía Đông Bắc Bộ và Thanh Hóa đã có mưa vừa, mưa to do ATNĐ.

Áp thấp nhiệt đới 23W[sửa | sửa mã nguồn]

Áp thấp nhiệt đới (JMA)
Áp thấp nhiệt đới (SSHWS)
Thời gian hoạt động 7 tháng 10 – 10 tháng 10
Cường độ mạnh nhất 55 km/h (35 mph) (duy trì 10 phút)  1000 mbar (hPa)

Cấp bão (Việt Nam): Cấp 7 - Áp thấp nhiệt đới

Cấp bão (Nhật Bản): 30kts - Áp thấp nhiệt đới, áp suất 1000 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 30kts - Áp thấp nhiệt đới

Cấp bão (Hồng Kông - Trung Quốc): 45 km/h (12 m/s) - Áp thấp nhiệt đới

  • Dù áp thấp nhiệt đới không mạnh lên thành bão và lại đổ bộ vào đất liền phía Nam tỉnh Hà Tĩnh nhưng do kết hợp với nhiễu động gió Đông trên cao nên vẫn gây ra gió mạnh cấp 5-6, giật cấp 7-8 cho các tỉnh từ Thái Bình đến Quảng Bình, đặc biệt tại trạm Văn Lý (Nam Định) có gió mạnh ở cấp bão (cấp 8, giật cấp 9) kèm theo mưa rất to ở Bắc Bộ và Thanh Hóa - Quảng Trị.
  • Tại tỉnh Ninh Bình, lũ trên sông Hoàng Long đã vượt mức lịch sử năm 1985 (là 0,5m)[6][7][8].
  • Trận mưa lũ lịch sử trong vòng 10 năm qua tại miền Bắc và các tỉnh Thanh Hóa - Hà Tĩnh vào ngày 9/10-13/10 khiến số người chết, mất tích, bị thương và bị nước lũ cuốn trôi rất nhiều khiến con số người chết vẫn còn tăng lên rất là nhiều.
  • Tính đến 17h ngày 14-10, mưa lũ tại các tỉnh miền Bắc và Bắc Trung bộ đã làm 68 người chết, 34 người mất tích, 32 người bị thương[9]. Bên cạnh đó, có một phóng viên TTXVN: Đinh Hữu Dư (SN 2-8-1988, quê ở Tân Trung, ngụ phường Tân Thành, TP Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình) phát thông tin hiện trường tại Yên Bái của đợt mưa lũ cho nên đã bị cuốn trôi khi một nhịp cầu bất ngờ bị đứt đổ sập xuống dòng nước lũ vào ngày 11/10/2017. Lễ viếng được tổ chức tại Phú Thọ[10].

Bão Khanun (Odette) - Bão số 11[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 2 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 11 tháng 10 – 16 tháng 10
Cường độ mạnh nhất 150 km/h (90 mph) (duy trì 10 phút)  950 mbar (hPa)

Cấp bão (Việt Nam): Cấp 13 - Bão cuồng phong

Cấp bão (Nhật Bản): 80kts - Bão cuồng phong, áp suất 950 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 90kts - Bão cuồng phong cấp 2

Cấp bão (Hồng Kông - Trung Quốc): 155 km/h (44 m/s) - Bão rất mạnh

Cấp bão (Philippines): Bão nhiệt đới dữ dội

  • Dù là bão mạnh nhưng bão vẫn bị không khí lạnh xâm nhập làm cho bão tan rất nhanh khi vừa vào Vịnh Bắc Bộ.

Bão Lan (Paolo)[sửa | sửa mã nguồn]

Bão cuồng phong (JMA)
Bão cuồng phong cấp 1 (SSHWS)
Thời gian hoạt động 15 tháng 10 – đang hoạt động
Cường độ mạnh nhất 120 km/h (75 mph) (duy trì 10 phút)  970 mbar (hPa)

Cấp bão (Nhật Bản): 65kts - Bão cuồng phong, áp suất 970 hPa (mbar)

Cấp bão (Hoa Kỳ - Mỹ): 65kts - Bão cuồng phong cấp 1

Cấp bão (Hồng Kông - Trung Quốc): 110 km/h (30 m/s) - Bão nhiệt đới dữ dội

Cấp bão (Philippines): Bão cuồng phong

Xoáy thuận khác[sửa | sửa mã nguồn]

  • 20/3: 1 ATNĐ hình thành ở Leyte, Philippines.[11][12][13]
  • 29/6: 1 ATNĐ hoạt động ở Nam Nhật Bản.
  • Liên tiếp 2 ATNĐ hoạt động ở Tây Bắc Thái Bình Dương vào ngày 4 và 13 tháng 7.
  • Cuối tháng 7 (26/7): 1 ATNĐ hoạt động ở vùng biển phía Đông Bắc của khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương (Mỹ cho là bão cận nhiệt đới).
  • 25/8: ATNĐ trên biển Đông. Áp thấp nhiệt đới này không mạnh thêm và chỉ tồn tại trong 24 giờ. Bão số 7 - Pakhar đã hút áp thấp nhiệt đới này khiến đường đi của bão di chuyển dịch xuống phía Nam. Bão có thể vẫn đổ bộ đất liền Trung Quốc nhưng vùng ảnh hưởng của bão gây mưa ở Bắc Bộ nước ta sẽ rộng hơn.[14]
  • 28/8: 1 ATNĐ ở phía Đông Philippines. Vùng ATNĐ có quỹ đạo phức tạp, suy yếu thành 1 vùng áp thấp khi bị bão Sanvu hoạt động vào ngày 29/8, tuy nhiên vùng thấp này vẫn hoạt động và nó đã hồi sinh lại thành ATNĐ ở phía Đông Philippines. Và nó đã mạnh lên thành bão vào chiều ngày 31/8 với tên quốc tế là Mawar, tức bão số 8.

Tên bão[sửa | sửa mã nguồn]

Tóm tắt mùa bão[sửa | sửa mã nguồn]

Bảng dưới đây tóm tắt tất cả các hệ thống phát triển trong hoặc chuyển vào Bắc Thái Bình Dương, ở phía Tây của Đường Ngày Quốc tế trong năm 2017. Các bảng cũng cung cấp tổng quan về cường độ, thời gian, diện tích đất bị ảnh hưởng và bất kỳ cái chết hoặc thiệt hại nào liên quan với hệ thống.

Tên bão Thời gian
hoạt động
Cấp độ cao nhất Sức gió
duy trì
Áp suất Khu vực tác động Tổn thất
(USD)
Số người chết Tham khảo
01W (Auring) 7 – 16 tháng 1 Áp thấp nhiệt đới 55 km/h (35 mph) 1002 hPa (29.59 inHg) Philippines, Nam Bộ, Campuchia &0000000000140000.000000$140 nghìn 1 [15][16]
Bising 3 – 7 tháng 2 Áp thấp nhiệt đới 55 km/h (35 mph) 1000 hPa (29.53 inHg) Không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có Không có
TD 20 – 21 tháng 3 Áp thấp nhiệt đới 45 km/h (30 mph) 1008 hPa (29.77 inHg) Philippines &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có Không có
02W (Crising) 13 – 20 tháng 4 Áp thấp nhiệt đới 55 km/h (35 mph) 1006 hPa (29.71 inHg) Philippines, Đài Loan &0000000001700000.000000$1.7 triệu 10 [17][18]
Muifa (Dante) 22 – 29 tháng 4 Bão nhiệt đới 65 km/h (40 mph) 1002 hPa (29.59 inHg) Quần đảo Caroline &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có Không có
Merbok - Bão số 1 10 – 13 tháng 6 Bão nhiệt đới dữ dội 100 km/h (65 mph) 985 hPa (29.09 inHg) Philippines, Nam Trung Quốc [nb 1] &0000000076700000.000000$76.7 triệu 5 [19][20][21]
TD 29 tháng 6  – 1 tháng 7 Áp thấp nhiệt đới 45 km/h (30 mph) 1008 hPa (29.77 inHg) Nhật Bản &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có Không có
Nanmadol (Emong) 1 – 5 tháng 7 Bão nhiệt đới dữ dội 100 km/h (65 mph) 985 hPa (29.09 inHg) Nhật Bản &0000000926000000.000000$926 triệu 36 [22][23]
[24]
TD 4 – 7 tháng 7 Áp thấp nhiệt đới 55 km/h (35 mph) 1010 hPa (29.83 inHg) Đài Loan, Quần đảo Nansei &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có Không có
TD 13 – 16 tháng 7 Áp thấp nhiệt đới 55 km/h (35 mph) 1006 hPa (29.71 inHg) Không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có Không có
Talas - Bão số 2 14 – 17 tháng 7 Bão nhiệt đới dữ dội 95 km/h (60 mph) 990 hPa (29.23 inHg) Nam Trung Quốc, Bắc Trung Bộ, Campuchia, Lào, Myanmar, Thái Lan [nb 2] &0000000072600000.000000$72.6 triệu 14 [25][26]
[27][28][29]
Noru 19 tháng 7 – 8 tháng 8 Siêu bão cuồng phong cấp 5 185 km/h (115 mph) 930 hPa (27.46 inHg) Nhật Bản >&0000000049530200.000000$49.5 triệu 2 [24]
Kulap 19 – 26 tháng 7 Bão nhiệt đới 75 km/h (45 mph) 1002 hPa (29.59 inHg) Không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có Không có
Roke (Fabian) - Bão số 3 21 – 23 tháng 7 Bão nhiệt đới 65 km/h (40 mph) 1002 hPa (29.59 inHg) Philippines, Đài Loan, Nam Trung Quốc &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có Không có
Sonca - Bão số 4 21 – 25 tháng 7 Bão nhiệt đới 65 km/h (40 mph) 994 hPa (29.35 inHg) Nam Trung Quốc, Bắc và Trung Trung Bộ, Lào, Thái Lan &0000000305600000.000000$306 triệu 37 [30][31][32][33]
Nesat (Gorio) 25 – 30 tháng 7 Bão cuồng phong 150 km/h (90 mph) 960 hPa (28.35 inHg) Philippines, Quần đảo Nansei, Đài Loan, Trung Quốc &0000000118080000.000000$118 triệu 2 [34][35][36][37]
TD 25 – 29 tháng 7 Áp thấp nhiệt đới 55 km/h (35 mph) 1006 hPa (29.71 inHg) Không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có Không có
Haitang (Huaning) - Bão số 5 27 tháng 7 – 1 tháng 8 Bão nhiệt đới 85 km/h (50 mph) 985 hPa (29.09 inHg) Philippines, Đài Loan, Trung Quốc &0000000003832000.000000$3.83 triệu Không có [35][38]
Nalgae 31 tháng 7 – 6 tháng 8 Bão nhiệt đới 65 km/h (40 mph) 992 hPa (29.29 inHg) Không có &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có Không có
Banyan 12 - 17 tháng 8 Bão cuồng phong 140 km/h (85 mph) 970 hPa (28.64 inHg) Đảo Wake Không có Không có
Hato (Isang) - Bão số 6 19 – 24 tháng 8 (đi vào Khu Vực Bắc Ấn Độ Dương) Bão cuồng phong 150 km/h (90 mph) 960 hPa (28.35 inHg) Philippines, Đài Loan, Nam Trung Quốc, Bắc Bộ &0000004311430000.000000$4.31 tỷ 26 [4][5][39][40] [41]
Pakhar (Jolina) - Bão số 7 24 – 28 tháng 8 Bão nhiệt đới dữ dội 110 km/h (70 mph) 985 hPa (29.09 inHg) Philippines, Nam Trung Quốc, Bắc Bộ, Thái Lan &0000000048966000.000000$49 triệu 8 [42][43]
[44]
TD 25 – 26 tháng 8 Áp thấp nhiệt đới 45 km/h (30 mph) 1002 hPa (29.59 inHg) Việt Nam &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có Không có
Sanvu 27 tháng 8 – 3 tháng 9 Bão cuồng phong 150 km/h (90 mph) 955 hPa (28.20 inHg) Quần đảo Mariana, Nhật Bản, Viễn Đông Nga &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có 1 [45]
TD 28 – 29 tháng 8 Áp thấp nhiệt đới 50 km/h (30 mph) 1002 hPa (29.59 inHg) Philippines &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có Không có
Mawar - Bão số 8 30 tháng 8 – 4 tháng 9 Bão nhiệt đới dữ dội 95 km/h (60 mph) 990 hPa (29.23 inHg) Philippines, Đài Loan, Nam Trung Quốc &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có Không có
Guchol (Kiko) - Bão số 9 4 – 7 tháng 9 Bão nhiệt đới 65 km/h (40 mph) 1000 hPa (29.53 inHg) Philippines, Đài Loan, Đông Trung Quốc &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có Không có
Talim (Lannie) 8 – 18 tháng 9 Bão cuồng phong 175 km/h (110 mph) 935 hPa (27.61 inHg) Philippines, Đài Loan, Đông Trung Quốc, Nhật Bản, Quần đảo Mariana, Viễn Đông Nga &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Chưa xác định 3 [46]
Doksuri (Maring) - Bão số 10 11 – 16 tháng 9 Bão cuồng phong 150 km/h (90 mph) 955 hPa (28.20 inHg) Philippines, Bắc và Trung Trung Bộ, Nam Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Bangladesh &0000000741000000.000000$741 triệu 24 [47][48][49][50][51][52]
22W (Nando) 23 – 25 tháng 9 Áp thấp nhiệt đới 55 km/h (35 mph) 1000 hPa (29.53 inHg) Philippines, Nam Trung Quốc, Bắc Bộ &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Tối thiểu Không có
23W 7 – 10 tháng 10 Áp thấp nhiệt đới 55 km/h (35 mph) 1000 hPa (29.53 inHg) Philippines, Bắc và Trung Trung Bộ, Nam Trung Quốc, Lào, Thái Lan &0000000225200000.000000$225 triệu 75 [53][54][55]
[56][57][58][59]
Khanun (Odette) - Bão số 11 11 – 16 tháng 10 Bão cuồng phong 150 km/h (90 mph) 950 hPa (28.05 inHg) Philippines, Đài Loan, Nam Trung Quốc, Bắc Bộ &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Chưa xác định 1
Lan (Paolo) 14 tháng 10 – đang hoạt động Bão cuồng phong 120 km/h (75 mph) 970 hPa (28.64 inHg) Quần đảo Caroline &-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.000000 Không có Không có
Tổng hợp mùa bão
33 XTNĐ 7 tháng 1  –
Chưa kết thúc
185 km/h (115 mph) 930 hPa (27.46 inHg) &0000006800379000.000000$6.8 tỷ 244
Chú ý – Quy ước các vùng để xác định vùng ảnh hưởng trực tiếp và vùng đổ bộ của bão
  • Việt Nam : Bắc Bộ (Bao gồm cả Tây Bắc Bộ, Đông Bắc Bắc Bộ, Đồng bằng Bắc Bộ); Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa - Quảng Bình), Trung Trung Bộ (Quảng Trị - Quảng Ngãi), Nam Trung Bộ (Bình Định - Bình Thuận), Tây Nguyên, Nam Bộ (Bao gồm cả Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ).
  • Trung Quốc: Nam Trung Quốc (Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam, Hải Nam, Hồng Kông, Ma Cao); Đông Trung Quốc (Phúc Kiến, Chiết Giang, Thượng Hải, Giang Tô, Sơn Đông, Hà Bắc, Bắc Kinh, Thiên Tân và các tỉnh phụ cận); Đông Bắc Trung Quốc (Hắc Long Giang, Cát Lâm, Côn Minh, Nội Mông). Các tỉnh còn lại ít hoặc hầu như không chịu ảnh hưởng của xoáy thuận nhiệt đới nên không nói đến. Nếu có 2 vùng trở lên thì gọi chung là Trung Quốc.

Tên quốc tế[sửa | sửa mã nguồn]

Các xoáy thuận nhiệt đới được đặt tên theo danh sách bên dưới do Trung tâm Khí tượng Chuyên ngành Khu vực ở Tokyo, Nhật Bản, khi một xoáy thuận đạt đến cường độ bão nhiệt đới.[60] Các tên gọi do các thành viên của ESCAP/WMO Typhoon Committee đề xuất. Mỗi nước trong số 14 nước và vùng lãnh thổ thành viên đưa ra 10 tên gọi, được sử dụng theo thứ tự ABC, bằng tên tiếng Anh của quốc gia đó.[61] Sau đây là các tên gọi dự kiến sẽ đặt tên cho các cơn bão năm 2017:

  • Muifa (1701)
  • Merbok (1702)
  • Nanmadol (1703)
  • Talas (1704)
  • Noru (1705)
  • Kulap (1706)
  • Roke (1707)
  • Sonca (1708)
  • Nesat (1709)
  • Haitang (1710)
  • Nalgae (1711)
  • Banyan (1712)
  • Hato (1713)
  • Pakhar (1714)
  • Sanvu (1715)
  • Mawar (1716)
  • Guchol (1717)
  • Talim (1718)
  • Doksuri (1719)
  • Khanun (1720)
  • Lan (1721)
  • Saola (chưa sử dụng)
  • Damrey (chưa sử dụng)
  • Haikui (chưa sử dụng)
  • Kirogi (chưa sử dụng)
  • Kai-tak (chưa sử dụng)

Tên địa phương của Philippines[sửa | sửa mã nguồn]

Cục quản lý Thiên văn, Địa vật lý và Khí quyển Philippines (PAGASA) sử dụng danh sách tên bão riêng của họ để đặt cho một xoáy thuận nhiệt đới khi nó đi vào khu vực theo dõi của họ. PAGASA đặt tên cho áp thấp nhiệt đới đã hình thành trong khu vực theo dõi của họ và những xoáy thuận nhiệt đới di chuyển vào khu vực theo dõi của họ. Nếu danh sách các tên trong năm đó bị sử dụng hết, tên sẽ được lấy từ một danh sách phụ trợ, và danh sách tên bão sẽ được đưa ra trước khi mùa bão bắt đầu. Tên còn lập lại (chưa bị khai tử) từ danh sách này sẽ được sử dụng một lần nữa trong mùa bão năm 2020. Đây là danh sách tương tự được sử dụng trong mùa bão 2013, với ngoại lệ có Lannie, SalomeYasmin thay thế Labuyo, Santi, Yolanda.[62]

  • Auring (01W)
  • Bising
  • Crising (02W)
  • Dante (1701)
  • Emong (1703)
  • Fabian (1707)
  • Gorio (1709)
  • Huaning (1710)
  • Isang (1713)
  • Jolina (1714)
  • Kiko (1717)
  • Lannie (1718)
  • Maring (1719)
  • Nando (22W)
  • Odette (1720)
  • Paolo (1721)
  • Quedan (chưa sử dụng)
  • Ramil (chưa sử dụng)
  • Salome (chưa sử dụng)
  • Tino (chưa sử dụng)
  • Urduja (chưa sử dụng)
  • Vinta (chưa sử dụng)
  • Wilma (chưa sử dụng)
  • Yasmin (chưa sử dụng)
  • Zoraida (chưa sử dụng)

D/S phụ trợ

  • Alamid (chưa sử dụng)
  • Bruno (chưa sử dụng)
  • Conching (chưa sử dụng)
  • Dolor (chưa sử dụng)
  • Ernie (chưa sử dụng)
  • Florante (chưa sử dụng)
  • Gerardo (chưa sử dụng)
  • Hernan (chưa sử dụng)
  • Isko (chưa sử dụng)
  • Jerome (chưa sử dụng)

Số hiệu cơn bão tại Việt Nam[sửa | sửa mã nguồn]

Tính đến thời điểm hiện tại, mùa bão trên biển Đông năm 2017 diễn biến khá giống năm 1971 và 1999. Hiện tại số lượng bão trên biển Đông là nhiều hơn TBNN cùng thời kỳ nhưng tuy nhiên, số bão đổ bộ vào nước ta lại ít hơn TBNN, tập trung ở Trung Bộ (mới có 3 cơn bão, cơn bão số 2 - Talas vào Hà Tĩnh, cơn bão số 4 - Sơn Ca vào Quảng Trị, bão số 10 - Doksuri đổ bộ vào Quảng Bình). Hai cơn bão số 2 và cơn bão số 4 xuất hiện trong tháng 7, và đó là lần đầu tiên ghi nhận được 2 cơn bão vào miền Trung trong tháng 7 kể từ năm 1971. Ngược lại, Bắc Bộ lại không có cơn bão nào đổ bộ (cho đến thời điểm này) lần đầu tiên từ năm 2006. Một điểm kỳ lạ là cả 5 cơn bão đầu tiên của mùa bão đều phát sinh (tức là mạnh lên thành bão) ngay trên biển Đông, lần đầu tiên kể từ năm 2002. Với hai cơn bão số 2 và cơn bão số 10, các tỉnh Bắc Trung Bộ (Thanh Hóa - Quảng Bình) lần đầu tiên ghi nhận bão đổ bộ trực tiếp kể từ cơn bão Wutip - bão số 10 năm 2013.

Dưới đây là các cơn bão được đặt số hiệu ở Việt Nam năm 2017 (kèm theo là vùng đổ bộ).

  • Bão số 1 (Merbok) - Đổ bộ Nam Trung Quốc.
  • Bão số 2 (Talas) - Đổ bộ phía Bắc tỉnh Hà Tĩnh.
  • Bão số 3 (Roke) - Đổ bộ Nam Trung Quốc.
  • Bão số 4 (Sonca) - Đổ bộ phía Bắc Quảng Trị.
  • Bão số 5 (Haitang) - Đổ bộ Phúc Kiến - Trung Quốc.
  • Bão số 6 (Hato) - Đổ bộ Nam Trung Quốc, đi sượt qua Lũng Cú - Hà Giang.
  • Bão số 7 (Pakhar) - Đổ bộ Nam Trung Quốc.
  • Bão số 8 (Mawar) - Đổ bộ Nam Trung Quốc.
  • Bão số 9 (Guchol) - Suy yếu thành vùng thấp trước khi vào Phúc Kiến - Trung Quốc.
  • Bão số 10 (Doksuri) - Đổ bộ vào phía Bắc tỉnh Quảng Bình.
  • Bão số 11 (Khanun) - Đổ bộ Nam Trung Quốc, tan ở Bắc Vịnh Bắc Bộ.

Ngoài ra 1 ATNĐ đổ bộ vào Phía Nam tỉnh Quảng Ninh vào chiều 25/9, 1 ATNĐ đổ bộ phía Nam tỉnh Hà Tĩnh sáng sớm 10/10.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Ban đầu các phương tiện truyền thông, báo chí đều cho rằng tâm bão vào Nghệ An. Tuy nhiên sau khi theo dõi lại ảnh vệ tinh, rada thời tiết cũng như là dữ liệu đường đi chuẩn của Nhật Bản, Hồng Kông, Mỹ hay của chính Việt Nam, thực tế bão số 2 đã đổ bộ vào phía Bắc tỉnh Hà Tĩnh. Trong bản tin Thời tiết tối (sau chương trình thời sự) ngày 30/7/2017 của VTV1, ông Lê Thanh Hải (Phó Tổng giám đốc trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương) cũng đã đính chính là bão số 2 đổ bộ Hà Tĩnh chứ không phải Nghệ An. Xem chương trình ở ở http://vtv.vn/video/ban-tin-thoi-tiet-19h45-30-7-2017-237061.htm
  2. ^ “Marine Weather Warning for GMDSS Metarea XI 2017-08-19T12:00:00Z”. WIS Portal – GISC Tokyo. Japan Meteorological Agency. Truy cập ngày 19 tháng 8 năm 2017. 
  3. ^ http://www.weather.gov.hk/wxinfo/intersat/satellite/sate.htm
  4. ^ a ă “17 killed, damage widespread in wake of Typhoon Hato”. China daily. 25 tháng 8 năm 2017. 
  5. ^ a ă “天鴿吹襲港澳粵-經濟損失約80億令吉”. 中國報 (bằng tiếng Chinese). 24 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 26 tháng 8 năm 2017. 
  6. ^ http://vtc.vn/muc-nuoc-song-hoang-long-cao-lich-su-dan-ninh-binh-nin-tho-cho-xa-lu-d356294.html
  7. ^ http://vtv.vn/trong-nuoc/thu-tuong-bieu-duong-ninh-binh-sang-suot-khi-chua-xa-lu-song-hoang-long-20171012181115763.htm
  8. ^ tuoitre.vn/63-nguoi-chet-35-nguoi-mat-tich-vi-mua-lu-20171014204045594.htm
  9. ^ 68 người chết trong mưa lũ, 34 người còn mất tích, tuoitre.vn, 15/10/2017
  10. ^ http://nld.com.vn/thoi-su/nhung-vong-hoa-trang-tien-dua-phong-vien-dinh-huu-du-ve-dat-me-20171014130322521.htm
  11. ^ “Marine Weather Warning for GMDSS Metarea XI 2017-03-20T06:00:00Z”. WIS Portal – GISC Tokyo. Japan Meteorological Agency. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2017. 
  12. ^ “Marine Weather Warning for GMDSS Metarea XI 2017-03-21T06:00:00Z”. WIS Portal – GISC Tokyo. Japan Meteorological Agency. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2017. 
  13. ^ “Marine Weather Warning for GMDSS Metarea XI 2017-03-21T12:00:00Z”. WIS Portal – GISC Tokyo. Japan Meteorological Agency. Truy cập ngày 21 tháng 3 năm 2017. 
  14. ^ Theo lời ông Nguyễn Văn Hưởng - Trưởng phòng Dự báo khí tượng hạn ngắn (Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn Trung ương). Ngày 26/08/2017, tại cuộc họp ứng phó bão số 7.
  15. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Auring1
  16. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Auring2
  17. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Crising1
  18. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Crising2
  19. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Merbok1
  20. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Merbok2
  21. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Merbok3
  22. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Nanmadol1
  23. ^ “被害1000億円超え 激甚早期指定働きかけ”. 毎日新聞 (bằng tiếng Japanese). 21 tháng 7 năm 2017. Bản gốc lưu trữ ngày 25 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 25 tháng 7 năm 2017. 
  24. ^ a ă “Two killed as typhoon slams southern Japan”. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2017. 
  25. ^ “gulftoday.ae – Tropical Storm Talas hits Vietnam, leaves one dead”. gulftoday.ae. 
  26. ^ VnExpress. “9 dead or missing in Vietnam as infrastructure is damaged – VnExpress International”. 
  27. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Talas2
  28. ^ “Tổng cục Thống kê”. www.gso.gov.vn. 
  29. ^ “台风"塔拉斯"造成三亚直接经济损失1088.3万元”. 东方网. China Express. Truy cập ngày 17 tháng 7 năm 2017. 
  30. ^ “Sonca storm leaves ruinous signature”. 28 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2017. 
  31. ^ Limited, Bangkok Post Public Company. “Worst floods in 2 decades hit Sakon Nakhon (Updated)”. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2017. 
  32. ^ “AHA Centre Flash Update: Flooding, Cambodia, Lao PDR, Myanmar & Thailand.”. 2 tháng 8 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2017. 
  33. ^ “Viet Nam, The Impact of Tropical Storm "Sonca". 31 tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2017. 
  34. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Gorio1
  35. ^ a ă Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên auto
  36. ^ Ltd, Australian News Channel Pty. “Typhoon Nesat sweeps through Taiwan”. Truy cập ngày 23 tháng 8 năm 2017. 
  37. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên auto1
  38. ^ “Typhoons Nesat, Haitang inflict NT$176 million in damages to agriculture”. 
  39. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Hato3
  40. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Hato4
  41. ^ “Ten dead as typhoon smashes into Macao, Hong Kong and south China”. 
  42. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Pakhar1
  43. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Pakhar2
  44. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Pakhar3
  45. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Sanvu1
  46. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Talim1
  47. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Doksuri1
  48. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Doksuri2
  49. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Doksuri3
  50. ^ Lỗi chú thích: Thẻ <ref> sai; không có nội dung trong thẻ ref có tên Doksuri4
  51. ^ Tư, Báo Điện tử Nhà Đầu. “Miền Trung thiệt hại hơn 16.000 tỷ đồng, nhiều gia đình vườn không nhà trống do bão số 10”. 
  52. ^ “Vientiane Times”. www.vientianetimes.org.la. 
  53. ^ http://baodansinh.vn/yen-bai-thiet-hai-tren-700-ty-dong-do-mua-lu-d65610.html
  54. ^ http://www.baotainguyenmoitruong.vn/thoi-su/201710/pho-chu-tich-quoc-hoi-tong-thi-phong-tham-va-lam-viec-tai-vung-lu-phu-yen-2852977/index.htm
  55. ^ baophutho.vn (12 tháng 10 năm 2017). “Phú Thọ: Thiệt hại do mưa lũ ước tính trên 22,8 tỷ đồng”. 
  56. ^ http://m.dantri.com.vn/xa-hoi/hoa-binh-33-nguoi-chet-va-mat-tich-trong-dot-mua-lu-kinh-hoang-20171016120240131.htm
  57. ^ http://www.bienphong.com.vn/thu-tuong-chi-dao-khong-de-nguoi-dan-vung-thien-tai-bi-doi-ret-benh-tat
  58. ^ http://vtv.vn/trong-nuoc/tinh-thanh-hoa-thiet-hai-khoang-2700-ty-dong-trong-dot-mua-lu-20171016101828872.htm
  59. ^ http://www.baohanam.com.vn/kinh-te/nong-nghiep/nganh-trong-trot-ha-nam-mat-277-ty-dong-do-mua-lu-5011.html
  60. ^ Gary èPadgett. “Monthly Tropical Cyclone summary December 1999”. Australian Severe Weather. Bản gốc lưu trữ ngày 17 tháng 5 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2008. 
  61. ^ “Tropical Cyclone names”. JMA. Bản gốc lưu trữ ngày 2 tháng 4 năm 2008. Truy cập ngày 20 tháng 4 năm 2008. 
  62. ^ “Philippine Tropical cyclone names”. Philippine Atmospheric, Geophysical and Astronomical Services Administration. Truy cập ngày 12 tháng 8 năm 2014. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]


Lỗi chú thích: Đã tìm thấy thẻ <ref> với tên nhóm “nb”, nhưng không tìm thấy thẻ tương ứng <references group="nb"/> tương ứng, hoặc thẻ đóng </ref> bị thiếu