Trần Văn Soái

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Năm Lửa)
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Trần Văn Soái
5lua.jpg
Chức vụ
Flag of South Vietnam.svg
Trung tướng, Quốc vụ khanh kiêm Ủy viên Quốc phòng Quốc gia Việt Nam
Nhiệm kỳ24 tháng 9 năm 1954 – 30 tháng 4 năm 1955
&-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1-1.0000000 năm, &0000000000000218.000000218 ngày
Thủ tướng, Tổng trưởng Quốc phòngNgô Đình Diệm
Quốc vụ khanh, Ủy viên Quốc phòngNguyễn Thành Phương (Thiếu tướng Cao Đài)
Hoa Hao flag.svg
Trung tướng Hòa Hảo
Nhiệm kỳ29 tháng 1 năm 1953 - tháng 12 năm 1956 – 
Flag of France.svg
Thiếu tướng của Quân đội Pháp
Nhiệm kỳ26 tháng 6 năm 1948 - 1955 – 
Hoa Hao flag.svg
Đại tá, Chi đội trưởng Chi đội 1 Vệ quốc, Liên đội Nguyễn Trung Trực Lực lượng Vũ trang Giáo phái Hòa Hảo
Nhiệm kỳ1945 – 
Sĩ quan cận vệ của Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ
Nhiệm kỳ1940 – 
Thông tin chung
Danh hiệuNăm Lửa
Quốc tịchViệt Nam
Sinh1889
Mỹ Thuận, Cần Thơ, Liên bang Đông Dương
Mất9 tháng 2 năm 1961
(72 tuổi)
Sài Gòn, Việt Nam Cộng hòa
Nghề nghiệpQuân nhân
Dân tộcKinh
Tôn giáoHòa Hảo
VợLê Thị Gấm (Phàn Lê Huê)
Học sinh trườngTrường Huấn luyện Quân sự Cái Vồn
Binh nghiệp
Phục vụHoa Hao flag.svg Giáo phái Hòa Hảo
Flag of South Vietnam.svg Quốc gia Việt Nam
ThuộcHoa Hao flag.svg Quân đội Hòa Hảo
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia
Năm tại ngũ1940 - 1956
Cấp bậcUS-O9 insignia.svg Trung tướng
Đơn vịHoa Hao flag.svg Lực lượng Dân xã
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Liên minh
Chỉ huyHoa Hao flag.svg Quân đội Hòa Hảo
Flag of the Vietnamese National Army.svg Quân đội Quốc gia

Trần Văn Soái (1889 - 1961) tự Năm Lửa, xuất thân là dân lao động tại bến xe, sau này trở thành Trung tướng của Lực lượng Vũ trang Giáo phái Hòa Hảo, hoạt động chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòaLực lượng Việt Minh vào những năm cuối thập niên 1940 và đầu thập niên 1950 của thế kỷ trước.

Quá trình hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh năm 1889 tại Mỹ Thuận, Cần Thơ, thủ phủ miền Tây Nam phần trong một gia đình nông dân về sau theo đạo Hòa Hảo.

Năm 1939 ông được giáo phái Hòa Hảo cho vào học sĩ quan tại trường Huấn luyện Quân sự Cái Vồn. Năm 1940 ông là sĩ quan cận vệ của Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ. Đến năm 1945 ông được phong cấp Đại tá trong lực lượng Hòa Hảo, và được cử làm Chi đội trưởng Chi đội 1 Nghĩa quân Cách mạng Vệ quốc Liên đội Nguyễn Trung Trực.

Giữa tháng 4 năm 1947, tại Cần Thơ, ông ra hợp tác với Chính phủ Nam kỳ Tự trị do Bác sĩ Lê Văn Hoạch làm Thủ tướng. Cũng trong năm này, Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ đột ngột mất tích khi đến Tân Phú, Đồng Tháp Mười để hòa giải sự xung đột giữa Việt Minh và Phật giáo Hòa Hảo. Một số nguồn tin từ phương Tây và của Phật giáo Hòa Hảo Hải ngoại đều cho rằng Việt Minh đã thủ tiêu Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ. Sau sự kiện này quan hệ giữa Việt Minh và Hòa Hảo hoàn toàn đổ vỡ. Hai bên xung đột dữ dội khắp nơi. Trước tình hình đó Hòa Hảo quyết định hợp tác Quân sự với Pháp chống lại Việt Minh. Hiệp định Liên quân ngày 18 tháng 5 năm 1947 giữa Lực lượng Hòa Hảo và Pháp cho phép Hòa Hảo kiểm soát một vùng rộng lớn ở Miền Tây (Hậu Giang), đặt Tổng hành dinh tại Cái Vồn, Cần Thơ.[1]

Ngày 26 tháng 6 năm 1948, ông nhận hàm Thiếu tướng của Quân đội Pháp phong tặng.[2] Vào thời điểm này, Lực lượng Quân sự của Hòa Hảo chia thành nhiều đơn vị đóng quân tại nhiều địa điểm khác nhau:

Ngày 29 tháng 1 năm 1953, ông được phong cấp Trung tướng Hòa Hảo. Ngày 24 tháng 9 năm 1954, ông hợp tác với Chính phủ Quốc gia giữ chức vụ Quốc vụ khanh kiêm Uỷ viên Quốc phòng trong Nội các của Thủ tướng Ngô Đình Diệm và được đồng hóa cấp Trung tướng Quân đội Quốc gia. Ngày 30 tháng 4 năm 1955, ông từ nhiệm các chức vụ trên để rút quân về căn cứ cũ ở Cái Vồn, Cần Thơ. Lực lượng do ông làm Tổng tư lệnh với khoảng 3.800 quân chia thành 7 Trung đoàn và một số Tiểu đoàn Biệt lập với sự giúp đỡ của Pháp. Ngày 10 tháng 6 cùng năm, ông bị Chính phủ Quốc gia đặt ra ngoài vòng pháp luật.

Ngày 1 tháng 1 năm 1956, Tổng thống Ngô Đình Diệm cho mở Chiến dịch Nguyễn Huệ bình định miền Tây, nhằm tiêu diệt Lực lượng của các Giáo phái như quân Ba Cụt, Năm Lửa... Với chiến thuật vừa đánh vừa đàm, sau khi dồn quân của ông vào ngõ cụt, ngày 11 tháng 2 năm 1956 theo sự chỉ đạo của Tổng thống Diệm, ông Nguyễn Ngọc Thơ đại diện Chính phủ âm mưu giả thương thuyết, phong cấp Thiếu tướng và chấp nhận cho Ba Cụt về hợp tác với Chính quyền, nhưng rồi vào phút cuối đã bắt ông. Sau khi thương lượng, Chính phủ đã đồng ý với các điều kiện như sau:

  1. Ông phải đặt toàn bộ Lực lượng Vũ trang của ông dưới quyền của Chính phủ.
  2. Các tài sản đã tịch thu thuộc quyền Chính phủ. Các tài sản chưa tịch thu, ông có quyền sử dụng.
  3. Binh sĩ Hòa Hảo được quyền tự do lựa chọn hoặc gia nhập Quân đội Chính phủ hoặc trở về với gia đình và làm ăn.

Ngày 17 tháng 2 năm 1956, ông tuyên bố trở về hợp tác với Chính phủ Quốc gia và ngày 8 tháng 3 cùng năm ông đã mang quân ra quy thuận (gồm 1.056 sĩ quan và 4.600 binh sĩ Dân xã Hòa Hảo). Sự trở về của Lực lượng do ông cầm đầu đã làm cho tình hình miền Tây lắng dịu và cũng đã chấm dứt cuộc đời hoạt động Chính trị, Quân sự của ông. Tháng 12 cùng năm, ông được giải ngũ vì lý do lớn tuổi.

Ngày 9 tháng 2 năm 1961, ông từ trần tại Tổng y viện Cộng hòa, Sài Gòn. Hưởng thọ 72 tuổi.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phu nhân: Bà Lê Thị Gấm (tục danh Phàn Lê Huê), một nữ tướng trong Quân đội Hòa Hảo Dân xã.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Cái Vồn trước năm 1975 là Trung tâm Hành chính của Quận Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long. Sau năm 1975 là Thị trấn Huyện lỵ huyện Bình Minh. Nay là Trung tâm Thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long.
  2. ^ Savani, A. M. Trang 90.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy (2011). Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng hòa.

Liên kết[sửa | sửa mã nguồn]

  • Savani, A. M. Visage et images du Sud Viet-Nam. Saigon: Imprimerie française d'Outre-mer, 1955.