Trần Văn Soái

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ Năm Lửa)
Bước tới: menu, tìm kiếm
5lua.jpg

Trần Văn Soái tự Năm Lửa (1889-1961), xuất thân là dân lao động tại bến xe, sau này trở thành Trung tướng của quân đội Hòa Hảo, hoạt động chống lại Quân đội Quốc gia Việt Nam, Việt Minh, vào những năm cuối thập niên 1940 và đầu thâp niên 1950.

Quá trình hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh năm 1889 tại Mỹ Thuận, Cần Thơ, thủ phủ miền tây Nam phần trong một gia đình nông dân.

Năm 1940, ông là sĩ quan cận vệ của Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ. Đến năm 1945 ông được phong cấp Đại tá Hòa Hảo, và được cử làm Chi đội trưởng Chi đội 1 Vệ quốc thuộc Liên đội Nguyễn Trung Trực.

Giữa tháng 4 năm 1947, tại Cần Thơ ông ra hợp tác với Chính phủ Nam kỳ Tự trị do Bác sĩ Nguyễn Văn Thinh làm Thủ tướng. Cũng trong năm này, Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ đột ngột mất tích khi đến Tân Phú, Đồng Tháp Mười để hòa giải sự xung đột giữa Việt Minh và Phật Giáo Hòa Hảo. Một số nguồn phương phương Tây và của phật giáo Hòa Hảo hải ngoại đều cho rằng Việt Minh đã thủ tiêu Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ. Sau sự kiện này quan hệ giữa Việt Minh và Hòa Hảo hoàn toàn đổ vỡ[cần dẫn nguồn]. Hai bên xung đột dữ dội khắp nơi. Trước tình hình đó Hòa Hảo quyết định hợp tác quân sự với Pháp chống lại Việt Minh.

Hiệp định Liên quân ngày 18 Tháng Năm năm 1947 giữa lực lượng Hòa Hảo và Pháp cho phép Hòa Hảo kiểm soát một vùng rộng lớn ở Miền Tây (Hậu Giang), đặt Tổng hành dinh tại Cái Vồn, Cần thơ (nay thuộc thị xã Bình Minh, tỉnh Vĩnh Long). Ngày 26 tháng 6 năm 1948, ông nhận hàm Thiếu tướng của Quân đội Pháp phong tặng.[1]

Vào thời điểm này, lực lượng quân sự của Hòa Hảo chia thành nhiều đơn vị khác nhau đóng quân tại nhiều địa điểm khác nhau:

Ngày 29 tháng 1 năm 1953, ông được phong lên Trung tướng Hòa Hảo. Ngày 24 tháng 9 năm 1954, ông hợp tác với Chính phủ Quốc gia giữ chức Quốc vụ khanh kiêm Uỷ viên Quốc phòng trong nội các của Thủ tướng Ngô Đình Diệm và được đồng hoá cấp Trung tướng Quân đội Quốc gia. Ngày 30 tháng 4 năm 1955, ông từ nhiệm các chức vụ trên để rút quân về căn cứ cũ Cái Vồn, Cần Thơ. Lực lượng do ông làm Tổng tư lệnh với khoảng 3.800 quân chia thành 7 Trung đoàn và một số Tiểu đoàn biệt lập với sự giúp đỡ của Pháp.

Ngày 1 tháng giêng năm 1956, Ngô Đình Diệm cho mở Chiến Dịch Nguyễn Huệ bình định miền Tây, nhằm tiêu diệt lực lượng của các giáo phái như quân Ba Cụt, Năm Lửa.

Với chiến thuật vừa đánh vừa đàm, sau khi dồn quân của ông vào ngỏ cụt. Ngày 11 tháng 2 năm 1956, ông Nguyễn Ngọc Thơ [2], đại diện chính phủ đã tiếp xúc với ông. Sau khi thương lượng, chính phủ đã đồng ý như sau:

- Ông phải đặt toàn bộ Lực lượng vũ trang của ông dưới quyền của chính phủ.

- Các tài sản đã tịch thu thuộc quyền chính phủ. Các tài sản chưa tịch thu, ông có quyền sử dụng.

- Binh sĩ Hòa Hảo được quyền tự do lựa chọn hoặc gia nhập quân đội chính phủ hoặc trở về với gia đình và làm ăn.

Ngày 17 tháng 2 năm 1956, ông đã mang quân ra quy thuận. Sự trở về của lực lượng do ông cầm đầu đã làm cho tình hình miền Tây lắng dịu và cũng đã chấm dứt cuộc đời hoạt động chính trị, quân sự của ông. Cuối năm này ông được giải ngũ vì lý do lớn tuổi.

Ngày 9 tháng 2 năm 1961, ông từ trần tại Tổng y viện Cộng hòa, Sài Gòn. Thọ 72 tuổi.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

  • Phu nhân: Bà Lê Thị Gấm (tục danh Phàn Lê Huê, một nữ tướng trong Quân đội Hòa Hảo Dân xã)

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Savani, A. M. Trang 90.
  2. ^ Cũng trong chiến dịch Nguyễn Huệ, theo sự chỉ đạo của Ngô Đình Diệm, Nguyễn Ngọc Thơ âm mưu giả thương thuyết, chấp nhận cho Ba Cụt về hợp tác với chính quyền, phong Thiếu tướng, rồi vào phút cuối, bắt ông.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Lược sử Quân Lực Việt Nam Cộng hòa (Danh sách Trung tướng Việt Nam Cộng hòa). Trần Ngọc Thống, Hồ Đắc Huân, Lê Đình Thụy 2011

Savani, A. M. Visage et images du Sud Viet-Nam. Saigon: Imprimerie française d'Outre-mer, 1955.