Olly Murs

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Olly Murs
Olly Murs-9859.jpg
Murs vào năm 2018
SinhOliver Stanley Murs
14 tháng 5, 1984 (35 tuổi)
Witham, Essex, England
Nghề nghiệp
  • Ca sĩ
  • người viết lời bài hát
  • người dẫn chương trình truyền hình
  • diễn viên
Năm hoạt động2009 – hiện tại
Chương trình TVThe X Factor (2009, 2015)
The Xtra Factor (2011–2012)
The Voice UK (2018–hiện tại)
Sự nghiệp âm nhạc
Thể loại
Nhạc cụ
  • Giọng hát
  • guitar
  • dương cầm
  • đàn phím
Hãng đĩa
Hợp tác với
Websiteollymurs.com

Oliver Stanley Murs[1] (sinh ngày 14 tháng 5 năm 1984) là một ca sĩ, người viết lời bài hát, người dẫn chương trình truyền hình và diễn viên người Anh. Anh bắt đầu tạo được sự chú ý khi đạt vị trí á quân trong mùa thứ 6 của The X Factor vào năm 2009.[2] Hiện tại, Murs đang ký hợp đồng với RCA RecordsSony Music UK ở Vương quốc Anh, cũng như Columbia Records ở Hoa Kỳ.

Vào năm 2010, Murs phát hành đĩa đơn đầu tay "Please Don't Let Me Go", đã ra mắt ở vị trí số một trên bảng xếp hạng UK Singles Chart, trong khi đĩa đơn tiếp theo, "Thinking of Me" đạt vị trí thứ 4. Vào tháng 11 năm 2010, nam ca sĩ đã phát hành album đầu tay mang tên chính mình, Olly Murs,[3] đã xuất hiện trên bảng xếp hạng UK Albums Chart ở vị trí thứ hai, với doanh số tuần đầu cao nhất đối với một album đầu tay vào năm 2010. Album phòng thu tiếp theo, In Case You Didn't Know được phát hành vào tháng 11 năm 2011 và đạt vị trí số một, cũng như sở hữu hai đĩa đơn quán quân: "Heart Skips a Beat" và "Dance with Me Tonight".[4]

Vào tháng 11 năm 2012, Murs đã phát hành album thứ ba Right Place Right Time và phát hành sáu đĩa đơn; đĩa đơn đầu tiên, "Troublemaker" (hợp tác với Flo Rida), trở thành đĩa đơn quán quân thứ tư của anh. Album tiếp theo, Never Been Better (2014) đứng vị trí số một và đạt được hai đĩa đơn top 5: "Wrapped Up" (hợp tác với Travie McCoy) và "Up" (hợp tác với Demi Lovato). Năm 2016, nam ca sĩ phát hành album phòng thu thứ năm 24 Hrs và đạt hạng nhất trên UK Albums Chart, trước khi được tiếp nối bởi album phòng thu kết hợp với tuyển tập hit You Know I Know (2018).

Tính đến tháng 12 năm 2014, Murs đã bán được hơn 10 triệu bản trên toàn thế giới.[5] Vào tháng 5 năm 2011, Murs trở lại The X Factor để đồng dẫn chương trình phụ The Xtra Factor với Caroline Flack. Cuốn tự truyện của anh, Happy Days, được xuất bản vào tháng 10 năm 2012. Vào ngày 16 tháng 4 năm 2015, Murs được thông báo sẽ tái hợp với Flack để thay thế Dermot O'Leary với tư cách là người đồng dẫn chương trình của The X Factor trong mùa thứ 12.

Danh sách đĩa nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

Lưu diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Phim ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa đề Vai diễn Ghi chú
2009, 2015 The X Factor Chính mình Thí sinh (2009)
Đồng dẫn chương trình (2015)
2011–2012 The Xtra Factor Dẫn chương trình
2011 Olly Murs Ye Olde Christmas Carol Dẫn chương trình
2011 An Olly Good Christmurs Dẫn chương trình
2013 90210 Mùa 5 Tập 19: "The Empire State Strikes Back"
2014 A Night In With Olly Murs Dẫn chương trình
2014 An Olly Jolly Christmurs Dẫn chương trình cho Heart TV
2015 Text Santa Đồng dẫn chương trình
2017 John Bishop: In Conversation With... Khách mời
2018–hiện tại The Voice UK Huấn luyện viên/Giám khảo
2018 Ant & Dec's Saturday Night Takeaway Bình luận viên khách mời
2018 Happy Hour with Olly Murs Chủ trì
2019 All Round to Mrs. Brown's Nghệ sĩ trình diễn khách mời
2019 101 Dalmatian Street Spike Lồng tiếng

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Olly's diary – Week 10 – Part 1 ITV – X Factor, 9 December 2009
  2. ^ “Joe McElderry wins X Factor crown”. BBC News. 13 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 14 tháng 12 năm 2009. 
  3. ^ Levine, Nick (19 tháng 8 năm 2010). “Exclusive: Olly Murs discusses debut album”. Digital Spy. Truy cập ngày 20 tháng 8 năm 2010. 
  4. ^ "Olly Murs announces new album 'In Case You Didn't Know'". Digital Spy. 19 September 2011. Retrieved 22 November 2011.
  5. ^ Rainbird, Ashleigh (2 tháng 12 năm 2014). “Olly Murs reveals he pays himself the same salary as a PLUMBER – despite being worth £5million”. Daily Mirror. Truy cập ngày 14 tháng 1 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]