Oncolit

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Tập tin:Oncolites.jpg
Đá hình hạch từ Đài hoa Burgsvik trở lên trên (Kỉ Silua) ở phía nam tỉnh Gotland, nước Thuỵ Điển. Đường kính của hoa lớn là 02 cm.
Đá hình hạch hình thành ở loài Bactroptyxis trachaea (ở vùng hành chính Normandie, nước Pháp) thuộc họ Nerineidae, lớp Chân bụng ở suốt thế Trung Jura.

Oncolit hay Đá hình hạch (chữ Anh: Oncolite, chữ Hán: 核形石, Hán - Việt: hạch hình thạch) là hạt hột được hình thành do loài tảo rỉ ra dịch keo sinh trưởng đồng thời tìm bắt và dính kết lại vật chất mạt vụn và chất điểm canxi cácbônát, tăng chồng chất thêm ở vây quanh trung tâm hạch. Đá hình hạch là một chủng loại hạt bọc tảo, do hai bộ phận trung tâm hạch và vỏ bọc hợp thành, cũng có người gọi nó là "sự kết hạch của tro tảo".[1] "Oncolite" từ này sớm nhất là do Albert Heim đề xuất vào năm 1916.[2]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “核形石”. Ngày 01 tháng 09 năm 2017. Truy cập ngày 28 tháng 12 năm 2018.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date= (trợ giúp)
  2. ^ Hans Murawski: Geologisches Wörterbuch. 8. Auflage. Enke, Stuttgart 1983, ISBN 3-432-84108-6, S. 155.