Pak Pong-ju

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Pak Pong-ju
Chức vụ
Nhiệm kỳ 1 tháng 4 năm 2013 – nay
4 năm, 174 ngày
Tiền nhiệm Choe Yong-rim
Kế nhiệm đương nhiệm
Nhiệm kỳ 3 tháng 9 năm 2003 – 11 tháng 4 năm 2007
3 năm, 220 ngày
Tiền nhiệm Hong Song-nam
Kế nhiệm Kim Yong-il
Thông tin chung
Đảng phái Đảng Lao động Triều Tiên
Sinh 24 tháng 10, 1939 (77 tuổi)
Bắc Hamgyong, Triều Tiên thuộc Nhật Bản (nay thuộc Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên)
Pak Pong-ju
Chosŏn'gŭl 박봉주
Hancha 朴鳳柱/朴奉珠
Romaja quốc ngữ Bak Bong-ju
McCune–Reischauer Pak Pong-ju

Pak Pong-ju (sinh năm 1939) là đương kim Thủ tướng Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Triều Tiên.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh ngày 24 tháng 10 năm 1939, rất ít thông tin về quá trình thăng tiến trong sự nghiệp chính trị.

Pak Pong-ju từng giữ cương vị Thủ tướng trong giai đoạn từ ngày 3 tháng 9 năm 2003,[1] đến ngày 11 tháng 3 năm 2007 và sau đó là tháng 3 năm 2013.

Vào năm 2013, Quốc hội Triều Tiên đã quyết định tái sử dụng nhà cải cách kinh tế Pak Pong-ju làm Thủ tướng Chính phủ thay ông Choe Yong-rim nhằm mục tiêu khôi phục và phát triển nền kinh tế quốc gia [cần dẫn nguồn] từ đó làm gia tăng những hy vọng sẽ có những cải tổ rộng lớn về kinh tế.

Phong cách[sửa | sửa mã nguồn]

Ông Pak được biết đến như một người từng nỗ lực đưa ra các cải cách kinh tế Bắc Triều Tiên.[2] Trong nhiệm kỳ Thủ tướng trước, là một nhà kỹ trị kỳ cựu, ông Pak Pong-ju từng dẫn dắt công cuộc cải cách kinh tế ở Triều Tiên khi làm thủ tướng giai đoạn 2003 - 2007 nhưng không mấy thành công. Ông Pak đi đầu trong việc cải cách thị trường theo hướng cho phép các doanh nghiệp nhà nước được tự chủ nhiều hơn, đồng thời giảm dần sự phân phối nhà nước về thực phẩm cũng như các nhu yếu phẩm.

Về chủ trương ủng hộ các biện pháp như tăng lương, cởi mở hơn với các hoạt động thị trường, tăng cường khuyến khích nông dân sản xuất… tuy nhiên, các chính sách này nhanh chóng bị đảo ngược sau khi bị chỉ trích là tư bản thái quá. Những nỗ lực này đã vấp phải sự phản đối từ phía đảng Lao động cầm quyền và quân đội Triều Tiên, rút cục khiến ông mất chức Thủ tướng[2] ông bị đình chỉ chức vụ vào tháng 6/2006, rồi bị cách chức trong năm tiếp theo.

Ở nhiệm kỳ lần thứ hai này, ông vẫn tập trung vào kinh tế, ông tham dự nhiều hơn các hoạt động kinh tế và ban hành các chính sách cụ thể, nhấn mạnh cần phải có các chiến lược quản lý mới để theo kịp sự phát triển trong thế kỷ mới, kêu gọi vạch ra các kế hoạch điều hành và tuyển dụng chi tiết cũng như thảo luận việc áp dụng công nghệ vào đồng áng để tăng sản lượng nông nghiệp điều này đang từ từ đặt nền móng cho một chương trình cải cách kinh tế kiểu mới mà chú ý đến nền kinh tế vốn ảnh hưởng trực tiếp đối với đời sống người dân.[3]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “1st Session of 11th SPA of DPRK Held”. KCNA. Ngày 3 tháng 9 năm 2003. Truy cập ngày 14 tháng 4 năm 2007. 
  2. ^ a ă “Con đường kinh tế "mờ mịt" của Triều Tiên”. vneconomy.vn. 2 tháng 5 năm 2013. Truy cập 4 tháng 6 năm 2014. 
  3. ^ “Tân thủ tướng Triều Tiên tập trung vào kinh tế”. Người Lao động. Truy cập 4 tháng 6 năm 2014. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]