Phan Thành Tài

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Phan Thành Tài (1869-1916)[1], hiệu: Đạt Đức; là một nhà yêu nước Việt Nam trong thời Pháp thuộc.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Phan Thành Tài là người làng Bảo An; nay là xã Điện Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Mặc dù xuất thân trong một gia đình nho học, nhưng ông theo Tây học khá sớm. Khi trưởng thành, ông từng làm thầy giáo dạy Pháp văn [2] tại các trường nghĩa thục như Diên Phong, Quảng Cái...

Từ năm 1900-1904, ông tham gia tích cực phong trào Duy Tân tại Quảng Nam.

Năm 1908, phong trào này bị khủng bố trắng, nhiều các chiến sĩ bị thực dân Pháp lưu đày đi Lao Bảo, Côn Đảo. Lúc ấy, ông cũng bị bắt giam tại nhà lao Quảng NamHội An. Đến khi ra tù, ông sống ẩn dật ở quê nhà một thời gian.

Sau đó, ông cùng với Thái PhiênTrần Cao Vân tham gia tổ chức Việt Nam Quang Phục Hội tại miền Trung. Ðầu năm 1916, Thái Phiên và Trần Cao Vân gặp vua Duy Tân để cùng mưu việc lật đổ chính quyền thực dân Pháp. Theo kế hoạch, cuộc khởi nghĩa sẽ diễn ra vào ngày 3 tháng 5 năm 1916 nhưng bị bại lộ. Vua Duy Tân, Thái Phiên, Trần Cao Vân...đều bị quân Pháp bắt; còn Phan Thành Tài thì chạy thoát được.

Ở ẩn tại miền Hiên, Giằng (hai huyện xưa) thuộc miền Tây Quảng Nam một thời gian ngắn, ông bị thực dân Pháp bắt, đưa về xử chém tại chợ Cũi (Vĩnh Điện, Điện Bàn, Quảng Nam) ngày 9 tháng 6 năm 1916, hưởng dương 48 tuổi.

Mộ ông hiện ở đầu cầu Vĩnh Ðiện ở gần Quốc lộ 1A.

Thương tiếc và ghi công[sửa | sửa mã nguồn]

Nghe tin Phan Thành Tài và Thái Phiên bị xử chém, chí sĩ Huỳnh Thúc Kháng có bài thơ khóc hai ông như sau:

Phiên âm Hán-Việt:
Khảng bả tây văn khứ tác nô,
Bất thành cam tự đoạn đầu lô.
Quốc trung Tây học nhân như tức,
Thanh dạ môn tâm quý tử vô.
Nghĩa là:
Âu học không đem rút của người,
Chả thành đời sống vứt như chơi.
Kìa phường học mới đông như kiến,
Đêm hỏi lòng chăng có hổ ngươi!

Ghi nhận công lao, tên Phan Thành Tài đã được dùng để đặt tên cho một đường phố và một trường Phổ thông trung học tại thành phố Đà Nẵng.

Từ tháng 12 năm 2011, tại thị trấn Vĩnh Điện, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam có đường phố mang tên ông.[3]

Vợ[sửa | sửa mã nguồn]

Vợ Phan Thành Tài là bà Bùi Thị Hậu (1881-1967); là người ở làng Vĩnh Trinh, huyện Duy Xuyên, tỉnh Quảng Nam.

Là người một phụ nữ yêu nước và đảm đang, bà đã hết sức cùng chồng lo việc cứu nước. Theo kế hoạch, bà phụ trách việc dệt vải rằn may đồng phục cho nghĩa quân. Việc khởi nghĩa không thành, khiến chồng bà phải thọ tử khi bà mới 35 tuổi. Song bà vẫn ở vậy nuôi 7 người con ăn học cho đến khi thành tài.

Năm Đinh Mùi (1967), bà mất, thọ 86 tuổi, được chôn cất tại đất thánh ở Đa Kao (Sài Gòn, nay là Thành phố Hồ Chí Minh) [4].

Sách tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Nguyễn Q. Thắng-Nguyễn Bá Thế, Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 1992.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Chép theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (mục từ: "Phan Thành Tài", tr. 797)
  2. ^ Chép theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam (tr. 797). Theo trang web Họ Phan, ngoài dạy môn Pháp văn, ông còn dạy toán pháp và các môn tân học khác.
  3. ^ Nghị quyết số 29/2011/NQ-HĐND ngày 09/12/2011 của HĐND tỉnh Quảng Nam.
  4. ^ Theo Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam, mục từ "Bùi Thị Hậu", tr. 57.