Quảng Hòa, Ba Đồn

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Quảng Hòa, Ba Đồn
Địa lý
Diện tích 5,7 km2[1]
Dân số  
 Tổng cộng 9.662 người (1999)[2]
 Mật độ 1695 người/km²
Hành chính
Huyện Ba Đồn
Mã hành chính ?[3]

Quảng Hòa (Gồm làng HÒA NINH Và GiÁP ĐOAI Làng VĨNH LỘC HỢP NHẤT từ Năm 1955 đến nay) là một xã thuộc thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình.Nằm ở vùng phía nam thị xã Ba Đồn khu vực được sông Gianh bao bọc (nằm giữa các rào Nậy, rào Nan và rào Son).Từ Ba Đồn có thể đi ngược lên bến đò Cửa Hác, đi theo đường bờ đê về phía tây vài cây số. Quảng Hòa là một trong 2 xã điểm chỉ đạo thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới (NTM) của Quảng Bình, đồng thời cũng là một trong 2 xã được thị xã Ba Đồn chọn làm điểm xây dựng NTM. Xã này có trụ sở đóng của trường thpt Lê HồNG Phong Phía bắc giáp xã Quảng LộcQuảng Tân, Phía tây giáp xã Quảng SơnQuảng Thủy, Phía nam giáp xã Quảng Minh, Phía đông giáp xã Quảng Văn.

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Gồm các thôn: Cao Cựu, Thanh Tân, Nhân Hòa, Vĩnh Phú và Hợp Hòa.

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Người dân ở đây chủ yếu sản xuất nông nghiệp và Buôn bán nhỏ lẻ. Ngoài ra ở đây còn tồn tại, lưu giữ một số nghề truyền thống như nghề chạm gỗ và rèn sắt.Quảng Hòa xưa vốn là làng của thợ mộc, nổi tiếng ra cả Hà Tĩnh và vào đến Thừa Thiên - Huế. Ở đây còn tồn tại rất nhiều ngôi nhà rường cổ từ 200-300 năm của quan lại và địa chủ thời xưa. Đình Hòa Ninh được xây dựng từ năm 1936 - là một công trình tiêu biểu cho nghệ thuật điêu khắc, chạm của người dân vùng đất Quảng Hòa. Ở đây còn lưu giữ 10 đạo sắc phong bằng chữ Hán do các triều vua phong tặng.Có MIẾU CỬA HÁC cũng là một hạng mục trong Di Tích Lịch sử cấp QG. [4]

Văn hóa, giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Quảng Hòa là vùng đất được tiếng hiếu học. Các vị tướng: Nguyễn Hòa, Nguyễn Văn Chương; các nhà thơ, nhà văn: Nguyễn Anh Tài, Lê Anh Phong, Hoàng Bình Trọng; nhạc sĩ Nguyên Nhung... là những cái tên thân thuộc của làng xã. Mảnh đất này còn có tiếng về sinh hoạt văn hóa cộng đồng. Các sinh hoạt văn hóa truyền thống như hát Kiều, đánh cờ người... là nét văn hóa đặc sắc của làng...

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Quyết định số 19/2006/QĐ-BTNMT ngày 01/12/2006 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Danh mục địa danh các đơn vị hành chính Việt Nam thể hiện trên bản đồ.
  2. ^ Kết quả Tổng điều tra dân số năm 1999, dẫn theo Quyết định số 19/2006/QĐ-BTNMT.
  3. ^ Quyết định số 124/2004/QĐ-TTg ngày 08/7/2004 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành bảng Danh mục và mã số các đơn vị hành chính Việt Nam.
  4. ^ Niên giám thống kê

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]