Rối loạn đa nhân cách

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm

Rối loạn đa nhân cách

Đồng nghĩaRối loạn nhân cách phân liệt[1][2]
Dissociative identity disorder.jpg
Mô tả của họa sĩ về 1 người đa nhân cách
KhoaKhoa tâm thần
Triệu chứngCó tối thiểu 2 nhân cách, không nhớ các sự kiện xảy ra[3]
Biến chứngTự sát, tự hại[3]
Kéo dàiDài hạn[4]
Nguyên nhânChildhood trauma, therapy induced[4][5]
Phương thức chẩn đoánBased on clinical criteria[4]
Tình trạng tương tựTrầm cảm, rối loạn lưỡng cực, rối loạn stress sau sang chấn, loạn tâm thần, rối loạn nhân cách, Conversion disorder[3]
Điều trịSymptomatic treatment, Tâm lý trị liệu[4]
Tần suất~2% of people[3][6]
Wikipedia không phải là một văn phòng y tế Phủ nhận y khoa 


Rối loạn nhân cách phân liệt (DID - Dissociative identity disorder), trước đây gọi là rối loạn đa nhân cách,[7] là một rối loạn tâm thần được đặc trưng bởi ít nhất hai trạng thái tính cách khác biệt và tương đối lâu dài.[3] Điều này được đi kèm với những khoảng trống bộ nhớ vượt ra ngoài những gì sẽ được giải thích bằng sự lãng quên thông thường.[3] Những trạng thái này luân phiên thể hiện trong hành vi của một người;[3] thuyết trình, tuy nhiên, là biến.[5] Các vấn đề khác thường xảy ra ở những người mắc DID bao gồm rối loạn nhân cách ranh giới (BPD), rối loạn căng thẳng sau chấn thương (PTSD), trầm cảm, rối loạn sử dụng chất, tự gây hại hoặc lo lắng.[3][5]

Một số chuyên gia tin rằng nguyên nhâncủa bệnh này là chấn thương thời thơ ấu.[4] Trong khoảng 90% các trường hợp, có một lịch sử lạm dụng trong thời thơ ấu, trong khi các trường hợp khác có liên quan đến kinh nghiệm chiến tranh hoặc các vấn đề sức khỏe trong khi còn nhỏ.[3] Yếu tố di truyền cũng được cho là đóng một vai trò.[5] Một giả thuyết khác là nó là sản phẩm phụ của các kỹ thuật được sử dụng bởi một số nhà trị liệu, đặc biệt là những người sử dụng thôi miên.[5][8] Chẩn đoán không nên được thực hiện nếu tình trạng của người được giải thích tốt hơn do lạm dụng chất gây nghiện, co giật, chơi trò chơi tưởng tượng ở trẻ em hoặc thực hành tôn giáo.[3]

Điều trị thường bao gồm chăm sóc hỗ trợtâm lý trị liệu.[4] Tình trạng bệnh thường kéo dài nếu không điều trị.[4][9] Nó được cho là ảnh hưởng đến khoảng 2% dân số nói chung và 3% những người nhập viện có vấn đề về sức khỏe tâm thần ở Châu Âu và Bắc Mỹ.[3][6] Bệnh này có nhiều ở nữ gấp sáu lần so với nam.[5] Số lượng các trường hợp tăng đáng kể trong nửa sau của thế kỷ 20, cùng với số lượng danh tính được tuyên bố của những người bị ảnh hưởng.[5]

Rối loạn đa nhân cách gây tranh cãi trong cả tâm thần học và hệ thống pháp luật.[5][8] Trong các vụ kiện tại tòa án, nó đã được sử dụng như một hình thức hiếm khi thành công của việc bào chữa bằng cách chứng minh thân chủ không đủ năng lực hành vi.[10][11] Không rõ liệu tỷ lệ rối loạn gia tăng là do nhận biết tốt hơn hay do các yếu tố văn hóa xã hội như truyền thông vẫn mô tả hay không.[5] Một tỷ lệ lớn các chẩn đoán có liên quan đến một số ít bác sĩ lâm sàng, phù hợp với giả thuyết rằng bệnh này có thể do chính người trị liệu tâm lý gây ra.[5] Các triệu chứng trình bày điển hình ở các khu vực khác nhau trên thế giới cũng có thể khác nhau tùy thuộc vào cách rối loạn đa nhân cách được các phương tiện truyền thông mô tả.[5]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Nevid, Jeffrey S. (2011). Essentials of Psychology: Concepts and Applications (bằng tiếng Anh). Cengage Learning. tr. 432. ISBN 9781111301217. 
  2. ^ Kellerman, Henry (2009). Dictionary of Psychopathology (bằng tiếng Anh). Columbia University Press. tr. 57. ISBN 9780231146500. 
  3. ^ a ă â b c d đ e ê g h Chú thích trống (trợ giúp) 
  4. ^ a ă â b c d đ “Dissociative Identity Disorder”. Merck Manuals Professional Edition. Tháng 7 năm 2017. Truy cập ngày 5 tháng 1 năm 2018. 
  5. ^ a ă â b c d đ e ê g h Beidel, Deborah C.; Frueh, B. Christopher; Hersen, Michel (2014). Adult psychopathology and diagnosis . Hoboken, N.J.: Wiley. tr. 414–422. ISBN 9781118657089. 
  6. ^ a ă International Society for the Study of Trauma Dissociation. (2011). “Guidelines for Treating Dissociative Identity Disorder in Adults, Third Revision” (PDF). Journal of Trauma & Dissociation 12 (2): 188–212. PMID 21391104. doi:10.1080/15299732.2011.537248. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 12 tháng 7 năm 2018. Truy cập ngày 12 tháng 4 năm 2014. 
  7. ^ “The ICD-10 Classification of Mental and Behavioural Disorders” (PDF). World Health Organization. 
  8. ^ a ă Reinders AA (2008). “Cross-examining dissociative identity disorder: Neuroimaging and etiology on trial”. Neurocase 14 (1): 44–53. PMID 18569730. doi:10.1080/13554790801992768. 
  9. ^ Brand, BL; Loewenstein, RJ; Spiegel, D (2014). “Dispelling myths about dissociative identity disorder treatment: an empirically based approach”. Psychiatry 77 (2): 169–89. PMID 24865199. doi:10.1521/psyc.2014.77.2.169. 
  10. ^ Farrell HM (2011). “Dissociative identity disorder: Medicolegal challenges” (PDF). The Journal of the American Academy of Psychiatry and the Law 39 (3): 402–406. PMID 21908758. 
  11. ^ Farrell, HM (2011). “Dissociative identity disorder: No excuse for criminal activity” (PDF). Current Psychiatry 10 (6): 33–40. Bản gốc (PDF) lưu trữ ngày 5 tháng 8 năm 2012.