Romain Gary

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Romain Gary
Sinh Roman Kacew[1]
21 tháng 5 năm 1914
Vilnius, Đế quốc Nga
(nay là Litva)
Mất 2 tháng 12 năm 1980 (65 tuổi)
Paris, Pháp
Bút danh Romain Gary, Émile Ajar, v.v...
Công việc nhà ngoại giao, phi công, nhà văn
Quốc gia Pháp
Quốc tịch Pháp
Học vấn Luật học
Bằng cấp Aix-en-Provence
Thể loại Tiểu thuyết
Tác phẩm nổi bật Rễ trời (Les racines du ciel)
Cuộc sống ở trước mặt (La vie devant soi)
Giải thưởng nổi bật Giải Goncourt (1956 và 1975)
Vợ/chồng Lesley Blanch (1944–1961)
Jean Seberg (1962–1970)
Con cái 1

Romain Gary (tiếng Pháp: [gaʁi]; 21 tháng 5 năm 19142 tháng 12 năm 1980), tên thật là Roman Kacew và còn được biết đến với các bút danh như Émile Ajar, là một nhà ngoại giao, nhà văn, đạo diễnphi công người Pháp gốc Do Thái. Sinh trưởng tại Litva và cuối đời mất ở Paris, sau khi bố mẹ chia tay vào năm 1925, ông sống cùng mẹ, chịu rất nhiều ảnh hưởng đặc biệt từ bà, nhất là tư chất nghệ sĩ cùng cá tính mạnh mẽ. Romain Gary chính thức nhập quốc tịch Pháp năm 1935, thi đỗ bằng cử nhân Luật năm 1938 rồi ngay sau đó tham gia nghĩa vụ quân sự và gia nhập Không quân Pháp. Sau nhiều năm chiến đấu anh dũng suốt Thế chiến II, ông được nhận Huân chương Bắc đẩu Bội TinhHuân chương Giải Phóng. Romain Gary là tác giả duy nhất đã hai lần giành giải Goncourt dưới hai cái tên khác nhau với các tiểu thuyết Rễ trời (Les racines du ciel) và Cuộc sống ở trước mặt (La vie devant soi). Ông được xếp vào hàng các tác gia kinh điển trong làng văn thế giới.

Thiếu thời[sửa | sửa mã nguồn]

Gary chào đời với cái tên khai sinh Roman Kacew (tiếng Yiddish: קצב, tiếng Nga: Рома́н Ка́цев) tại Vilna, Đế quốc Nga (nay là Vilnius, Litva).[1][2] Trong những tác phẩm và qua các cuộc phỏng vấn, ông đã giới thiệu nhiều phiên bản khác nhau về nguồn gốc cha mẹ, tổ tiên, nghề nghiệp và thời thơ ấu của mình. Mẹ ông tên là Mina Owczyńska (1879—?),[1][3] là một nữ diễn viên Litva gốc Do Thái vùng Švenčionys và cha ông là một doanh nhân tên gọi Arieh-Leib Kacew (1883—1942) quê miền Trakai, cũng là một người Litva gốc Do Thái.[4][5] Arieh Leib đã bỏ bê gia đình và tái hôn với một người phụ nữ khác vào năm 1925. Gary về sau cho biết người cha ruột của ông chính là diễn viên và ngôi sao điện ảnh nổi tiếng Ivan Mozzhukhin, mà mẹ ông từng làm việc chung với nhau và trông ông có nét tương đồng nổi bật với cha mình. Mozzhukhin xuất hiện trong quyển tự truyện của ông nhan đề Lời hứa lúc bình minh.[6] Khi Gary vừa tròn mười bốn tuổi, hai mẹ con đã dọn đến sống tại Nice, Pháp. Theo mẹ cải sang đạo Thiên Chúa, Gary bắt đầu vào học luật ở Aix-en-Provence và Paris. Sau khi lấy bằng cử nhân Luật vào năm 1938, ông tham gia nghĩa vụ quân sự và gia nhập Không quân Pháp ở Salon-de-Provence và tại Căn cứ Không quân Avord, nằm gần Bourges.

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sau khi Đức Quốc xã chiếm đóng nước Pháp trong Thế chiến II, ông bèn trốn sang Anh đi theo Charles de Gaulle gia nhập lực lượng kháng chiếnchâu ÂuBắc Phi. Là một phi công lái máy bay ném bom, ông đã thực hiện trên 25 phi vụ thành công, với hơn 65 giờ bay.[7] Chính vào lúc này, ông đã đổi sang tên Romain Gary. Để thưởng công vì lòng dũng cảm trong chiến tranh, ông được trao tặng Huân chương Giải Phóng (Compagnon de la Libération) và Bắc Đẩu Bội tinh (Légion d'honneur). Năm 1945, ông xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên Education européenne. Ngay sau khi chiến tranh kết thúc, ông vào làm việc trong ngành ngoại giao Pháp ở BulgariaThụy Sĩ.[8] Năm 1952 ông trở thành thư ký của Phái đoàn Pháp tại Liên Hiệp Quốc.[8] Năm 1956, ông trở thành Tổng Lãnh sự tại Los Angeles và bắt đầu làm quen với Hollywood.[8]

Tác phẩm văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Gary là một trong những nhà văn viết nhiều và nổi tiếng nhất ở Pháp, tác giả của hơn ba mươi quyển tiểu thuyết, tiểu luận và hồi ký, một số trong đó được ông viết dưới một bút danh. Ông là người duy nhất đoạt giải Goncourt tới hai lần.[9] Đây là giải thưởng dành cho văn học tiếng Pháp được trao một lần duy nhất cho một tác giả. Gary, từng nhận được giải thưởng năm 1956 dành cho Rễ trời (Les racines du ciel), đã xuất bản Cuộc sống ở trước mặt (La vie devant soi) dưới bút danh Émile Ajar vào năm 1975. Hội văn học Goncourt đã trao giải thưởng cho tác giả của cuốn tiểu thuyết này mà không biết được danh tính của người đó. Cháu họ của Gary là Paul Pavlowitch được cho là tác giả trong một khoảng thời gian. Gary về sau đã tiết lộ sự thật trong tác phẩm được xuất bản sau khi tác giả qua đời với nhan đề Vie et mort d'Émile Ajar.[10] Gary còn được xuất bản dưới bút danh Shatan Bogat, Rene Deville và Fosco Sinibaldi, cũng như cái tên khai sinh của ông là Roman Kacew.[11][12] Bên cạnh sự thành công với tư cách là một tiểu thuyết gia, ông còn phụ trách viết kịch bản cho phim điện ảnh The Longest Day và đồng biên kịch và đạo diễn bộ phim Kill! (1971),[13] mà vợ của ông đóng vai chính vào lúc đó là Jean Seberg. Năm 1979, ông là thành viên của ban giám khảo tại Liên hoan phim quốc tế Berlin lần thứ 29.[14]

Đời tư và những năm tháng cuối đời[sửa | sửa mã nguồn]

Người vợ đầu tiên của Gary là nhà văn, nhà báo, biên tập viên người Anh của tạp chí Vogue Lesley Blanch, tác giả quyển The Wilder Shores of Love. Họ kết hôn năm 1944 và ly dị vào năm 1961. Từ năm 1962 đến năm 1970, Gary kết hôn với nữ diễn viên người Mỹ Jean Seberg, cả hai có với nhau một đứa con trai tên là Alexandre Diego Gary. Theo lời Diego Gary, ông giống như một người cha xa cách: "Ngay cả khi ông chỉ quanh quẩn gần đó, cha tôi vẫn không ra mặt. Vì bận bịu công việc, ông thường qua chào hỏi tôi, nhưng rồi lại đi suốt."[15] Sau khi biết vợ mình đã ngoại tình với Clint Eastwood, Gary đòi thách đấu tay đôi với Eastwood nhưng bị từ chối.[16] Gary chết vì tự bắn mình vào ngày 2 tháng 12 năm 1980 tại Paris. Ông để lại một lời ghi chú nói rằng cái chết của ông không liên quan đến vụ tự tử của Seberg vào năm trước. Ông cũng viết rõ trong tờ ghi chú rằng mình chính là Émile Ajar.[17] Gary được hỏa táng tại Nghĩa trang Père Lachaise và tro cốt đem rải xuống vùng biển Địa Trung Hải nằm gần Roquebrune-Cap-Martin.[18]

Tác phẩm[sửa | sửa mã nguồn]

Dưới tên Romain Gary[sửa | sửa mã nguồn]

Lời hứa lúc bình minh, Nguyễn Duy Bình dịch, Nhã Nam, Nhà xuất bản Văn Học, 2009.

Bút danh Émile Ajar[sửa | sửa mã nguồn]

Quấn-Quít, Hồ Thanh Vân dịch, Nhã Nam, Nhà xuất bản Văn Học, 2016.
Cuộc sống ở trước mặt, Hồ Thanh Vân dịch, Nhã Nam, Nhà xuất bản Văn Học, 2010.

Bút danh Fosco Sinibaldi[sửa | sửa mã nguồn]

Bút danh Shatan Bogat[sửa | sửa mã nguồn]

Phim ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Đạo diễn[sửa | sửa mã nguồn]

Biên kịch[sửa | sửa mã nguồn]

Đọc thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Ivry, Benjamin (ngày 21 tháng 1 năm 2011). “A Chameleon on Show”. Daily Forward. 
  2. ^ Romain Gary et la Lituanie Được lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2011 tại Wayback Machine
  3. ^ Myriam Anissimov. Romain Gary, le Caméléon. Paris: Les éditions Folio Gallimard, 2004. ISBN 978-2-207-24835-5, pp. ??
  4. ^ “Romain Gary”. Encyclopédie sur la mort. Truy cập ngày 21 tháng 6 năm 2016. 
  5. ^ Schoolcraft, Ralph W. (2002). Romain Gary: the man who sold his shadow. University of Pennsylvania Press. tr. 165. ISBN 0-8122-3646-7. 
  6. ^ Schwartz, Madeleine. “Romain Gary: A Short Biography”. The Harvard Advocate. 
  7. ^ “Romain Gary, 1038 compagnons, Compagnons - Musée de l'Ordre de la Libération”. Truy cập 26 tháng 11 năm 2016. 
  8. ^ a ă â Bellos, David (2010). Romain Gary: A Tall Story. tr. ??. 
  9. ^ “30 ans après sa mort, Romain Gary garde ses mystères”. Le Monde. Ngày 12 tháng 2 năm 2010. Truy cập ngày 20 tháng 11 năm 2016. 
  10. ^ Gary, Romain, Vie et mort d'Émile Ajar, Gallimard – NRF (17 juillet 1981), 42p, ISBN 978-2-07-026351-6.
  11. ^ Lushenkova, Anna (2008). “La réinvention de l'homme par l'art et le rire: 'Les Enchanteurs' de Romain Gary”. Trong Clément, Murielle Lucie. Écrivains franco-russes. Faux titre 318. Rodopi. tr. 141–163. ISBN 90-420-2426-7. 
  12. ^ Di Folco, Philippe (2006). Les grandes impostures littéraires: canulars, escroqueries, supercheries, et autres mystifications. Écriture. tr. 111–113. ISBN 2-909240-70-3. 
  13. ^ Romain Gary on the IMDb website
  14. ^ “Berlinale 1979: Juries”. berlinale.de. Truy cập ngày 8 tháng 8 năm 2010. 
  15. ^ Paris Match No.3136
  16. ^ Bellos, David (ngày 12 tháng 11 năm 2010). “Romain Gary: au revoir et merci”. The Telegraph (UK). 
  17. ^ D. Bona, Romain Gary, Paris, Mercure de France-Lacombe, 1987, p. 397–398.
  18. ^ Beyern, B., Guide des tombes d'hommes célèbres, Le Cherche Midi, 2008, ISBN 978-2-7491-1350-0

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]