Sói đen

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Một con sói có bộ lông màu đen

Sói đen hay hắc lang là những con sói đột biến màu lông có hắc tố đen và mang trên mình bộ lông màu đen. Thực chất, sói đen chính là loài sói xám (Canis lupus). Sói đen là một trong những kẻ săn mồi biến đổi di truyền đầu tiên

Nguồn gốc[sửa | sửa mã nguồn]

Sự lai tạp[sửa | sửa mã nguồn]

Sói đen thực chất là một loài chó sói lai với những con chó nhà (wolf-dog hybridisation). Trong một sự kiện biến đổi tiến hóa khác thường, chó giao phối với chó sói từ ngàn năm trước đã truyền lại một đột biến gen mã hóa màu sắc lông đen cho tổ tiên của loài sói. Kết quả là, sói xám hay không còn mang màu lông xám nữa.

Những con chó của những người Mỹ bản địa đầu tiên, đã góp phần vào sự đa dạng di truyền của những cá thể cùng họ hàng hoang dã theo một phương thức ảnh hưởng đến cả diện mạo cũng như sự tồn tại của cá thể nhận đột biến. Chó sói và chó nhà có chung con đường di truyền quyết định màu lông đen. Sói đen sẽ đổi sang màu xám khi về già.

Phân tích[sửa | sửa mã nguồn]

Gen chịu trách nhiệm sản sinh màu lông đen ở chó có tên beta-defensin thuộc về một họ gen trước đây từng được cho là có liên quan trong việc chống lại sự nhiễm trùng. Một biến thể của gen khiến những con chó hay sói có màu lông vàng hoặc màu lông sáng, một đột biến làm mất 3 nucleotit khiến các con vật có màu lông đen.

Protein quy định sự khác biệt trong màu sắc lông có liên quan đến sự viêm hay nhiễm trùng, do đó nó mang lại cho những con vật lông đen một lợi thế khác biệt so với tác động về mặt sắc tố của nó. Gen quy định lông đen mang bằng chứng về chọn lọc tích cực ở loài sói sống trong rừng, gen này là gen trội, con vật dù chỉ có một bản sao của gen đó cũng có lông đen. Trong số 14 con của cặp giao phối giữa sói đen và sói xám thì có 10 con sói nhỏ mang gen trội và có màu lông đen.

Kết quả[sửa | sửa mã nguồn]

Tác động của hiện tượng này không chỉ đơn giản như là là sự hình thành những con sói đen, gần như trở thành đặc trưng của vùng Bắc Mỹ. Sự kiện cũng mang lại lợi thế chọn lọc so với những con sói màu lông sáng hơn ở các vùng có rừng rậm. Những con sói màu lông đen khá phổ biến ở các vùng rừng rậm tại Bắc Cực thuộc Canada so với số lượng sói lông đen ở các đài nguyên băng giá với tỷ lệ 62% và 7% trên tổng số quần thể.

Việc có lông đen mang lại lợi thế đặc biệt cho những con sói sống trong rừng, Sói đen chiếm số đông trong bầy đàn tại những cánh rừng Bắc Mỹ, trong khi sói trắng lại có số lượng nhiều hơn ở các lãnh nguyên trơ trụi vì chó sói phần lớn dựa vào khả năng ngụy trang để bảo vệ mình hay để gia tăng tỷ lệ đi săn thành công.

Đây là một đột biến đã được con người nuôi dưỡng dưới dạng chó nhà trong suốt hàng ngàn năm, nó không những đã xâm nhập vào quần thể hoang dã mà còn mang lại lợi ích cho chúng. Sự mất đi môi trường sống lãnh nguyên của loài sói có lẽ sẽ còn khuyến khích sự phát triển ngày một lan rộng của gen quy định lông đen.

Đột biến mang lại lợi ích cho những con sói vùng rừng rậm. Tiến hóa có thể bao gồm cả những hiện tượng trong đó đặc điểm được truyền lại theo những con đường không ngờ đến. Với môi trường lãnh nguyên được dự tính sẽ thu hẹp trong những năm tới đây do hiện tượng mở rộng rừng phương bắc liên quan đến sự nóng lên toàn cầu, màu lông đen có thể giúp sói xám thích nghi với sự thay đổi môi trường.

Thời điểm[sửa | sửa mã nguồn]

Đột biến có khả năng được đưa vào gen chó sói nhờ chó nhà vào khoảng 10.000 đến 15.000 năm trước, tương đương với thời điểm những người Mỹ đầu tiên di cư qua eo biển Bering. Những người này có lẽ đã mang chó đi cùng, một vài con trong số đó có đột biến lông đen xuất hiện cách đây 50.000 năm. Việc chó nhà tiếp xúc với sói ở Bắc Mỹ đơn giản hơn là ở châu Âu. Lúc đó mật độ sói nhiều hơn còn những con chó nhà, giống như người, sống di trú.

Đột biến xảy ra ở quần thể chó sói trước khi chó nhà được thuần hóa cách đây khoảng 15.000 đến 40.000 năm và sau đó những con sói đen đã chết. Hoặc gen đột biến xuất hiện đầu tiên ở chó nhà và không xâm nhập vào quần thể hoang dã cho đến khi người Mỹ bản địa di cư từ Châu Âu. Chưa thể biết được liệu có tồn tại con sói đen nào trước giai đoạn thuần chủng chó nhà hay không.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  • Fauna Boreali-americana, Or, The Zoology of the Northern Parts of British America: Containing Descriptions of the Objects of Natural History Collected on the Late Northern Land Expeditions, Under Command of Captain Sir John Franklin, R.N. By John Richardson, William Swainson, William Kirby Published by J. Murray, 1829
  • The Natural History of Dogs: Canidæ Or Genus Canis of Authors. Including Also the Genera Hyæna and Proteles by Charles Hamilton Smith, Published by W.H. Lizars, ... S. Highley, ... London; and W. Curry, jun. and Co. Dublin., 1839
  • Penny Cyclopaedia of the Society for the Diffusion of Useful Knowledge By Society for the Diffusion of Useful Knowledge (Great Britain), Published by C. Knight, 1833
  • Field Sports of the North of Europe: Comprised in a Personal Narrative of a Residence in Sweden and Norway, in the Years 1827–28 by Llewelyn Lloyd, Published by H. Colburn and R. Bentley, 1831
  • Domestic Annals of Scotland: From the Revolution to the Rebellion of 1745, by Robert Chambers, published by W. & R. Chambers, 1861
  • The great and small game of India, Burma, and Tibet By Richard Lydekker Published by Asian Educational Services, 1996 ISBN 81-206-1162-4, 978-81-206-1162-7 416 pages
  • A Natural History of the Globe: Of Man, of Beasts, Birds, Fishes, Reptiles, Insects, and Plants by Georges Louis Leclerc Buffon, John Wright, F.Z.S. John Wright, Published by Gray & Bowen, 1831
  • Morton, Thomas (1972). New English Canaan: Or, New Canaan (Research Library of Colonial Americana). pp. p188. ISBN 0-405-03309-5.
  • The Menageries: Quadrupeds, Described and Drawn from Living Subjects by James Rennie, Society for the Diffusion of Useful Knowledge (Great Britain). Contributor Charles Knight, William Clowes, Longman, Rees, Orme, Brown, and Green, Oliver & Boyd (Firm), published by Charles Knight, 1829
  • American Natural History, by John Davidson Godman, Edition: 3, published by Hogan & Thompson, 1836