Samidare (tàu khu trục Nhật)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Samidare
Tàu khu trục Samidare
Phục vụ (Nhật Bản) Naval Ensign of Japan.svg
Tên gọi: Samidare(五月雨) Cơn mưa đầu mùa
Đặt hàng: Năm tài chính 1931
Hãng đóng tàu: Uraga Dock Company
Đặt lườn: 19 tháng 12 năm 1934
Hạ thủy: 6 tháng 7 năm 1935
Nhập biên chế: 19 tháng 1 năm 1937
Xóa đăng bạ: 10 tháng 10 năm 1944
Số phận: Bị tàu ngầm Mỹ Batfish đánh chìm gần đảo Palau, 26 tháng 8 năm 1944
Đặc điểm khái quát
Lớp và kiểu: lớp tàu khu trục Shiratsuyu
Trọng tải choán nước: 1.685 tấn Anh (1.712 t) (tiêu chuẩn)
Độ dài: 103,5 m (340 ft) (mực nước)
107,5 m (352 ft 8 in) (chung)
Sườn ngang: 9,9 m (32 ft 6 in)
Mớn nước: 3,5 m (11 ft 6 in)
Động cơ đẩy: 2 × turbine hơi nước hộp số Kampon
3 × nồi hơi
2 × trục
công suất 42.000 hp (31.000 kW)
Tốc độ: 34 hải lý một giờ (39 mph; 63 km/h) (ban đầu),
33,3 hải lý một giờ (38,3 mph; 61,7 km/h) (sau cải biến)
Tầm xa: 4.000 hải lý (7.400 km) ở tốc độ 14 hải lý một giờ (26 km/h)
Tầm hoạt động: 460 tấn dầu
Thủy thủ đoàn
đầy đủ:
226
Vũ trang: 5 × hải pháo 127 mm/50 Loại 3 (2×2, 1×1)
2 × pháo phòng không 13 mm loại 94
8 × ống phóng ngư lôi 630 mm loại 93
16 × mìn sâu
Các tàu khu trục ShigureSamidare hoạt động ngoài khơi bờ biển Bougainville trong quần đảo Solomon, vài giờ trước trận Hải chiến Vella Lavella vào ngày 7 tháng 10 năm 1943.

Samidare (tiếng Nhật: 五月雨) là một tàu khu trục hạng nhất của Hải quân Đế quốc Nhật Bản, thuộc lớp tàu khu trục Shiratsuyu bao gồm mười chiếc. Samidare đã từng tham gia nhiều hoạt động tại Mặt trận Thái Bình Dương trong Chiến tranh Thế giới thứ hai, trước khi bị tàu ngầm Mỹ Batfish đánh chìm gần đảo Palau vào ngày 26 tháng 8 năm 1944.

Thiết kế và chế tạo[sửa | sửa mã nguồn]

Lớp tàu khu trục Shiratsuyu là phiên bản cải tiến dựa trên lớp tàu khu trục Hatsuharu, được thiết kế để tháp tùng lực lượng tấn công chủ lực của Hải quân Nhật Bản, và để tiến hành những cuộc tấn công cả ngày và đêm bằng ngư lôi nhằm vào Hải quân Hoa Kỳ khi chúng vượt băng qua Thái Bình Dương, theo kế hoạch của học thuyết chiến lược hải quân Nhật Bản.[1] Mặc dù là một trong những lớp tàu khu trục mạnh mẽ nhất thế giới khi hoàn tất, không có chiếc nào sống sót qua cuộc Chiến tranh Thái Bình Dương.[2]

Samidare, là chiếc thứ năm trong số sáu tàu khu trục được chế tạo trong Chương trình Bổ sung Vũ khí Hải quân Nhật Bản (1931) (Maru Ichi Keikaku);[3] nó được đặt lườn tại xưởng đóng tàu của hãng Uraga Dock Company vào ngày 19 tháng 12 năm 1934, được hạ thủy vào ngày 6 tháng 7 năm 1935, và được đưa ra hoạt động vào ngày 19 tháng 1 năm 1937.[4]

Lịch sử hoạt động[sửa | sửa mã nguồn]

Vào lúc xảy ra cuộc Tấn công Trân Châu Cảng, Samidare được phân về Đội 2 của Hải đội Khu trục 4 trực thuộc Hạm đội 2 Hải quân Đế quốc Nhật Bản cùng với các tàu chị em Murasame, HarusameYudachi; và đã khởi hành từ Quân khu Bảo vệ Mako tham gia cuộc chiếm đóng Philippines ("Chiến dịch M").

Từ tháng 1 năm 1942, Samidare tham gia các hoạt động tại Đông Ấn thuộc Hà Lan, bao gồm việc chiếm đóng đảo Tarakan, Balikpapan và phía Đông Java. Trong Trận chiến biển Java, Samidare đối đầu cùng một nhóm tàu tuần dương và tàu khu trục Đồng Minh. Quay trở lại vịnh Subic ở Philippines vào ngày 16 tháng 3, nó đã hỗ trợ cho cuộc phong tỏa vịnh Manila và chiếm đóng Cebu, rồi quay trở về Xưởng hải quân Yokosuka để sửa chữa vào đầu tháng 5. Trong trận Midway vào các ngày 46 tháng 6, nó nằm trong thành phần lực lượng đổ bộ lên Midway dưới quyền chỉ huy của Đô đốc Nobutake Kondō.

Từ giữa tháng 6, Samidare được điều sang Mergui ngang qua Singapore để gia nhập lực lượng dự định tấn công Ấn Độ Dương, nhưng chiến dịch này bị hủy bỏ do cuộc đổ bộ tại Guadalcanal. Samidare đã hộ tống cho thiết giáp hạm Mutsu trong Trận chiến Đông Solomons vào ngày 24 tháng 8. Trong gần hết tháng 9, Samidare đã hộ tống cho tàu chở thủy phi cơ Kunikawa Maru thám sát khu vực quần đảo Solomon và quần đảo Santa Cruz tìm địa điểm lập căn cứ thủy phi cơ phù hợp, và quay trở về Palau vào cuối tháng. Trong tháng 10, Samidare đã hộ tống các tàu chuyển binh lính đến Guadalcanal, và bị hư hại nhẹ trong một cuộc không kích vào ngày 14 tháng 10 do bom ném suýt trúng. Dù sao nó vẫn còn khả năng chiến đấu, và đã tiến hành các chuyến đi "Tốc hành Tokyo" vận chuyển tốc độ cao đến Guadalcanal và nhiệm vụ bắn pháo hỗ trợ, cùng tham chiến một lúc ngắn trong Trận Santa Cruz vào ngày 26 tháng 10 dưới sự chỉ huy của Đô đốc Takeo Kurita.

Sau khi được sửa chữa tại Truk, Samidare được phân về Lực lượng Bắn phá dưới quyền Chuẩn Đô đốc Abe Hiroaki, và đã tham gia trận Hải chiến Guadalcanal thứ nhất trong đêm 1213 tháng 11 năm 1942. Mặc dù tham chiến trễ trong quá trình trận đánh, nó đã giúp vào việc đánh chìm tàu khu trục USS Monssen và gây hư hại cho tàu tuần dương hạng nhẹ USS Helena. Sau trận đánh, nó đã cứu vớt 207 người sống sót từ tàu khu trục chị em Yudachi bị hư hại nặng trong trận đánh, nhưng đã không thể đánh đắm xác tàu bỏ lại bằng ngư lôi.

Trong khuôn khổ trận Hải chiến Guadalcanal thứ hai trong đêm 1415 tháng 11, cùng với tàu tuần dương Nagara soái hạm của hải đội, Samidare đã giúp vào việc đánh chìm các tàu khu trục USS Benham, USS WalkeUSS Preston cùng làm hư hại nặng USS Gwin. Sau trận đánh, nó vớt những người sống sót từ chiếc thiết giáp hạm Kirishima, và đến được Truk vào ngày 18 tháng 11. Đến cuối tháng, nó quay về Yokosuka để sửa chữa. Vào cuối tháng 12, nó quay trở lại Truk trong thành phần hộ tống cho tàu tuần dương hạng nặng Takao.

Vào giữa tháng 1 năm 1943, Samidare hộ tống tàu sân bay Junyō từ Truk đến Palau và Wewak; và sau khi hỗ trợ cho việc triệt thoái lực lượng còn lại khỏi Guadalcanal vào tháng 2, nó được phân công bảo vệ các hoạt động vận chuyển binh lính đến New Guinea, KolombangaraTuluvu cho đến cuối tháng 4. Vào tháng 5, nó quay về Yokosuka trong thành phần lực lượng hộ tống cho thiết giáp hạm Yamato, và sau đó được điều đến các vùng biển phía Bắc cùng các tàu tuần dương MyōkōHaguro để hỗ trợ cho việc triệt thoái lực lượng Nhật Bản khỏi đảo Kiska thuộc quần đảo Aleut. Nó quay trở về Yokosuka vào ngày 6 tháng 8 cùng với tàu tuần dương Maya để sửa chữa.

Vào tháng 9, Samidare hộ tống các tàu sân bay TaihōChūyō đi đến Truk, rồi sau đó hỗ trợ cho việc triệt thoái lực lượng khỏi Kolombangara; nó thoát khỏi một cuộc tấn công bởi các tàu khu trục Mỹ vào ngày 2 tháng 10 chỉ bị hư hại nhẹ. Trong trận Hải chiến Vella Lavella vào ngày 6-7 tháng 10, Samidare đã phóng ngư vào tàu khu trục USS Selfridge. Sau các hoạt độngtriệt thoái binh lính trong suốt tháng 10, Samidare có mặt trong Trận chiến vịnh Nữ hoàng Augusta vào ngày 2 tháng 11, nơi nó phóng ngư vào tàu khu trục USS Foote nhưng cũng bị hư hại đáng kể do hai phát đạn pháo bắn trúng và va chạm với tàu khu trục chị em Shiratsuyu khiến hư hại mũi tàu. Nó quay về Xưởng hải quân Yokosuka để sửa chữa vào giữa tháng 12.

Vào tháng 4 năm 1944, Samidare hộ tống các đoàn tàu vận tải chuyển binh lính từ Nhật Bản đến Saipan, và tiếp tục đi đến Truk và Palau. Vào ngày 27 tháng 4, nó trợ giúp vào việc cứu vớt những người sống sót từ tàu tuần dương Yubari bị trúng ngư lôi. Trong tháng 5 và đầu tháng 6, Samidare hỗ trợ cho việc triệt thoái lực lượng khỏi Biak và các địa điểm khác tại Đông Ấn thuộc Hà Lan. Nó tham gia Trận chiến biển Philippine vào ngày 19-20 tháng 6 trong thành phần lực lượng đặc nhiệm của Đô đốc Takatsugu Jōjima. Đến tháng 7, nó hộ tống một đoàn tàu vận tải chuyển binh lính đến Okinawa và đến Lingga, rồi quay trở lại cùng với tàu tuần dương Kinu đến Palau vào tháng 8. Tuy nhiên, vào ngày 18 tháng 8, Samidare bị mắc cạn tại bãi san hô Velasco gần đảo Palau, ở tọa độ 08°10′B 134°38′Đ / 8,167°B 134,633°Đ / 8.167; 134.633. Đến ngày 25 tháng 8, nó trúng ngư lôi phóng từ tàu ngầm USS Batfish. Chiếc tàu khu trực bị vỡ làm đôi, phần đuôi bị chìm ngay, trong khi phần mũi sau đó bị chính quân Nhật phá hủy.

Samidare được rút khỏi danh sách Đăng bạ Hải quân vào ngày 10 tháng 10 năm 1944.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ Peattie & Evans, Kaigun.
  2. ^ Globalsecurity.org, IJN Shiratsuyu class destroyers
  3. ^ Lengerer, trang 92-93
  4. ^ Nishidah, Hiroshi (2002). “Shiratsuyu class 1st class destroyers”. Materials of the Imperial Japanese Navy. 

Thư mục[sửa | sửa mã nguồn]

  • D'Albas, Andrieu (1965). Death of a Navy: Japanese Naval Action in World War II. Devin-Adair Pub. ISBN 0-8159-5302-X. 
  • Brown, David (1990). Warship Losses of World War Two. Naval Institute Press. ISBN 1-55750-914-X. 
  • Howarth, Stephen (1983). The Fighting Ships of the Rising Sun: The Drama of the Imperial Japanese Navy, 1895–1945. Atheneum. ISBN 0689114028. 
  • Jentsura, Hansgeorg (1976). Warships of the Imperial Japanese Navy, 1869–1945. US Naval Institute Press. ISBN 087021893X. 
  • Lengerer, Hans (2007). The Japanese Destroyers of the Hatsuharu Class. Warship 2007. London: Conway. tr. 91–110. ISBN 1-84486-041-8. OCLC 77257764
  • Watts, Anthony J (1967). Japanese Warships of World War II. Doubleday. ASIN B000KEV3J8. 
  • Whitley, M J (2000). Destroyers of World War Two: An International Encyclopedia. London: Arms and Armour Press. ISBN 1854095218. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]