Sebastian Kurz

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Sebastian Kurz
Sebastian Kurz crop.jpg
Chủ tịch Đảng Nhân dân Áo
Nhậm chức
1 tháng 7 năm 2017
0 năm, 111 ngày
Quyền: 15 tháng 5 năm 2017 – 1 tháng 7 2017
Tiền nhiệm Reinhold Mitterlehner
Kế nhiệm đương nhiệm
Chủ tịch Tổ chức An ninh và Hợp tác Châu Âu
Nhiệm kỳ
1 tháng 1 năm 2017 –
0 năm, 292 ngày
Tiền nhiệm Frank-Walter Steinmeier
Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Áo
Nhiệm kỳ
16 tháng 12 năm 2013 –
3 năm, 308 ngày
Thủ tướng Werner Faymann
Christian Kern
Tiền nhiệm Michael Spindelegger
Quốc vụ khanh hội nhập
Nhiệm kỳ
21 tháng 4 năm 2011 – 16 tháng 12 năm 2013
3 năm, 308 ngày
Tiền nhiệm Thiết lập chức vụ
Kế nhiệm Sáp nhập vào Bộ Ngoại giao
Thông tin cá nhân
Sinh 27 tháng 8, 1986 (31 tuổi)
Viên, Áo
Đảng chính trị Đảng Nhân dân Áo
Alma mater Đại học Viên
Biệt danh "The Whiz Kid"[1]

Sebastian Kurz (sinh ngày 27 tháng 8 năm 1986) là một chính trị gia người Áo, đương kim chủ tịch Đảng Nhân dân Áo (ÖVP) từ tháng 7 năm 2017. Từ năm 2009 tới 2017 ông là chủ tịch đoàn thanh niên ÖVP và từ năm 2015 chủ tịch trường chính trị ÖVP.

Ông từng giữ chức vụ Quốc vụ khanh Hội nhập của Bộ Nội vụ Liên bang Áo. Ngày 12 tháng 12 năm 2013, ông được bổ nhiệm giữ chức Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Áo. Ngày 16 tháng 12 năm 2013, Sebastian Kurz chính thức trở thành Ngoại trưởng trẻ tuổi nhất trong lịch sử nền Đệ nhị cộng hòa của Áo và là vị ngoại trưởng trẻ nhất Liên minh châu Âu.[2][3]Ngày 15 tháng 10 năm 2017, Đảng Nhân dân Áo của ông dẫn đầu với 31,4 % số phiếu bầu. Ông dường như nắm chắc cơ hội trở thành Thủ tướng Áo và sẽ trở thành nhà lãnh đạo trẻ nhất thế giới.[4]

Thời niên thiếu và giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Kurz sinh ra ở Viên, thủ đô nước Áo và lớn lên ở quận Meidling và hiện nay vẫn sống ở quận này. Ông nhập học Bundesgymnasium und Bundesrealgymnasium Erlgasse[5] vào năm 1996 và sau kì thi tốt nghiệp vào năm 2004 Kurz đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự bắt buộc. Vào năm 2011, sau ít nhất 7 năm học mà không lấy được bằng cấp, ông đã quyết định dừng việc học ngành luật của mình tại Đại học Viên để theo đuổi sự nghiệp chính trị.[6]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Sebastian Kurz là đoàn viên Đoàn Thanh thiếu niên thuộc Đảng Nhân dân Áo từ năm 2003 (17 tuổi).[7] Năm 2009 (23 tuổi), ông được bầu làm Chủ tịch đoàn với 99% số phiếu tán thành và tiếp tục giữ cương vị này với 100% phiếu tán thành vào năm 2012 (26 tuổi).[8] Cũng từ năm 2009, ông làm Phó Chủ tịch Đảng nhân dân ÁoViên. Từ năm 2010 đến năm 2011, ông là thành viên Hội đồng Thành phố Viên.

Tháng 4 năm 2011, trong thời gian diễn ra cuộc cải tổ nội các thì Kurz được chỉ định làm Quốc vụ khanh Hội nhập (thuộc Bộ Nội vụ Liên bang Áo); sự kiện này khơi mào một số chỉ trích.[9][10] Tuy nhiên một năm sau thì truyền thông đã dành những đánh giá tích cực hơn cho ông.[11][12] Trong cuộc bầu cử Quốc hội Áo 2013, ông giành được nhiều phiếu trực tiếp nhất từ cử tri so với các chính trị gia khác.[2] Từ 16 tháng 12 năm 2013, ông là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Áo, trong đó phụ trách thêm mảng hội nhập xã hội theo yêu cầu của ông.

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

Sebastian Kurz có mẹ là giáo viên, còn cha là kĩ sư.[13] Ông sinh ra và hiện vẫn sinh sống tại quận Meidling, thành phố Viên.[14] Năm 2004, ông tốt nghiệp trung học. Bản thân ông từng phát biểu rằng mối quan tâm của ông là vấn đề hội nhập xã hội của dân nhập cư. Phân nửa học sinh cùng lớp học của ông có cha hay mẹ người ngoại quốc.[15] Giai đoạn 2004-2005, ông thực hiện nghĩa vụ quân sự trong quân đội Áo. Sau đó, ông ghi danh khoa Luật của Đại học Viên,[16] đến học kỳ thứ 13 (năm 2011) thì ông trở thành Quốc vụ khanh Hội nhập.

Cảm nhận[sửa | sửa mã nguồn]

  • Báo Frankfurter Allgemeine Zeitung (FAZ) đánh giá Kurz trong chuyến thăm chính thức đầu tiên của ông tới thủ đô Berlin của Đức là „rất hùng biện“, "súc tích" và "không ngần ngại đối đáp" [17].
  • Vào tháng 12 năm 2014, Thông tấn xã Đức (DPA) cho Kurz là một trong "bảy người chiến thắng trên sân khấu chính trị thế giới 2014".[18]
  • Anna von Bayern viết trong tuần báo "Focus" rằng, người ta nhận thấy là Bộ Ngoại giao Áo đã tự tin hơn, và Kurz làm cho nó lại trở thành quan trọng hơn. Viên trở thành một nơi đối thoại, đầu tiên với hội nghị thượng đỉnh Ucraina vào năm 2014, sau đó là đàm phán về thỏa thuận hạt nhân với Iran. Các cuộc đàm phán Syria bắt đầu ở Vienna vào mùa thu năm 2015. [19]
  • Tạp chí Time liệt kê Kurz vào năm 2017 là một trong 10 "nhà lãnh đạo thế hệ tiếp theo". "Chính khách kiểu mới" đã tìm ra một con đường mới để đối phó với cuộc khủng hoảng người tị nạn. "Con đường thực dụng" có tác dụng và được các chính trị gia châu Âu khác đi theo. [20]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Meet the 31-year-old conservative poised to become Austria’s new chancellor”. Vox. 16 tháng 10 năm 2017. 
  2. ^ a ă Michael Shields (ngày 17 tháng 12 năm 2013). “Kurz, 27, puts fresh face on Austrian foreign policy”. Reuters. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2013. But the appointment of the youngest Austrian minister in the history of the second republic, established after World War II, drew opposition fire. 
  3. ^ “Austria swears in EU's youngest foreign minister Sebastian Kurz”. BBC News. Ngày 16 tháng 12 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 12 năm 2013. Europe's youngest foreign minister has taken office, after Austria swore in its new coalition government. 
  4. ^ “Áo sẽ có tân thủ tướng trẻ nhất châu Âu”. 
  5. ^ “GRG XII Erlgasse - Gymnasium und Realgymnasium, Erlgasse 32-34, 1120 Wien”. erlgasse.at. Truy cập ngày 15 tháng 10 năm 2017. 
  6. ^ "New(ish) faces at the FAC", European Voice, 21 January 2014.
  7. ^ “JVP”. Truy cập ngày 28 tháng 10 năm 2011. 
  8. ^ “OTS0063 vom 14. April 2012”. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2012. 
  9. ^ Oliver Pink (ngày 22 tháng 4 năm 2011). “Gerechtigkeit für Sebastian Kurz”. Die Presse. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2011. 
  10. ^ Peter Michael Linges (ngày 16 tháng 7 năm 2011). “Kurz kann´s”. Profil. Truy cập ngày 31 tháng 10 năm 2011. 
  11. ^ Oliver Pink (ngày 6 tháng 4 năm 2012). “Der unterschätzte Staatssekretär”. Die Presse. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2012. 
  12. ^ Gerald John, Peter Mayer (ngày 4 tháng 4 năm 2012). “Vom Superpraktikanten zum Tempomacher”. Der Standard. Truy cập ngày 23 tháng 4 năm 2012. 
  13. ^ Sebastian Kurz: Prinz Gutgelaunt, hồ sơ ngày 13 tháng 12 năm 2013
  14. ^ Oliver Pink; Thomas Prior (ngày 23 tháng 4 năm 2011). “Sebastian Kurz: „Goldene Löffel hatte ich nie im Mund". Die Presse. Truy cập ngày 28 tháng 4 năm 2011. Ich bin ein Meidlinger, kein Hietzinger. Ich bin im Zwölften aufgewachsen und in öffentliche Schulen gegangen. 
  15. ^ Sofia Khomenko (19 tháng 2 năm 2013). “Sebastian Kurz: „Es gibt in jeder Partei Gfraster“”. mokant.at (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 10 tháng 3 năm 2013. Ich bin ganz natürlich damit aufgewachsen. Ich komme aus Wien, aus dem zwölften Bezirk. In meiner Klasse hatten fünfzig Prozent der Schüler Migrationshintergrund. 
  16. ^ “Lebenslauf Sebastian Kurz”. Truy cập ngày 19 tháng 4 năm 2011. 
  17. ^ Leila Al-Serori (16 tháng 1 năm 2014). “Sebastian Kurz, der „junge Metternich“”. Kurier (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2017. 
  18. ^ “Ranking: Sebastian Kurz unter „Gewinnern auf der Weltbühne“”. Die Presse (bằng tiếng Đức). 1 tháng 12 năm 2014. Truy cập ngày 15 tháng 5 năm 2017.  Weitere Genannte waren EU-Kommissionspräsident Jean-Claude Juncker und der indische Premierminister Narendra Modi
  19. ^ Anna von Bayern. “Euro-Star: Das macht Österreichs Außenminister so erfolgreich”. Focus (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 29 tháng 9 năm 2016. 
  20. ^ Simon Shuster (2 tháng 3 năm 2017). “A New Kind of Statesman”. Time (bằng tiếng Đức). Truy cập ngày 6 tháng 3 năm 2017. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]