So đũa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Còn gọi là dank kaa, angkea dey chhmol (Cămpuchia), phak dok khe (Lào-Viênchian), fayotier (Pháp)

Sesbania grandiflora
Sesbania grandiflora Blanco2.291.png
Phân loại khoa học
Giới (regnum) Plantae
(không phân hạng) Angiospermae
(không phân hạng) Eudicots
(không phân hạng) Rosids
Bộ (ordo) Fabales
Họ (familia) Fabaceae
Phân họ (subfamilia) Faboideae
Tông (tribus) Sesbanieae
Chi (genus) Sesbania
Loài (species) S. grandiflora
Danh pháp hai phần
Sesbania grandiflora
(L.) Poiret

So đũa hay điền thanh hoa lớn (danh pháp hai phần: Sesbania grandiflora Pers, đồng nghĩa Aeschynomene grandiflora) là một cây nhỏ thuộc chi Sesbania trong họ Đậu (Fabaceae). Người ta tin nó có nguồn gốc từ Ấn Độ hay Đông Nam Á và mọc ở những nơi nóng ẩm.

Mô tả[sửa | sửa mã nguồn]

Là cây thân gỗ cao 4–10 m, mọc rất nhanh, vỏ tiết mủ đỏ. Lá kép lông chim chẵn, dài 15-30cm, lá do 50-60 phụ hợp thành. Lá chét rất nhiều, tới 30 đôi, hình bầu dục, thuôn dài 25mm, rộng 8-10mm thường các lá ở giữa dầy hơn các lá ở ngọn, lá bẹ rụng sớm. Hoa xếp thành chùm ở nách, thõng. Chùm hoa to, dài 7–8 cm, màu trắng đôi khi hồng hay cam tím. Quả dài 30–35 cm, thẳng, thót lại ở gốc và đỉnh, thu hẹp và dẹp ở khoảng cách giữa các hạt, nhưng không chia thành đốt. Hạt rất nhiều hình bầu dục, dẹt màu vàng sậm hoặc nâu. Vỏ có chất màu đỏ và vàng.

Phân bố[sửa | sửa mã nguồn]

So đũa được trông nhiều ở miền Nam nước ta chủ yếu để làm cảnh vì có hoa đẹp, đôi khi được trồng làm cây chủ cho cây hồ tiêu leo. Còn thấy trông ở Lào, Cămpuchia, và nhiều nước nhiệt đới châu Á khác.

Thành phần hóa học[sửa | sửa mã nguồn]

Trong vở cây so đũa có chứa chất gôm nhựa. Khi còn tươi gôm nhựa có màu hồng đỏ, nhưng để một thời gian thì xâm lại. Gôm nhựa này một phần tan trong nước, một phần tan trong cồn. Hai chất màu là agathin màu đỏ, và xanthoagathin màu vàng, ngoài ra còn basorin, một chất nhựa và tannin.

Lá, hoa và quả chứa nhiều đường, đặc biệt hoa có lượng vitamin C cao (0.1%), vitamin b, muối canxi và sắt,các axit amin.

Sử dụng[sửa | sửa mã nguồn]

Vỏ được dùng làm thuốc bổ, khai vị, trị thổ tả. vát đi lớp vỏ cứng bên ngoài, phần vỏ xanh trắng bên trong dùng để nhai chầm chậm nuốc nước hơi rít, có vị hơi chátngọt, làm hạ đờm suyễn, ho ngứa cổ, làm nhọt lở trong miệng chóng lành. Đọt non,lá và hoa so đũa cũng được ăn như rau ở Đông Nam Á, đặc biệt ở Lào, Java thuộc Indonesia, Việt Nam, và vùng Ilocos của Philippines.

Ở Việt Nam, hoa so đũa thường được dùng nấu canh chua, đọt non ăn như rau với mắm sống, món kho, v. v. Trái so đũa khi còn non gập bẻ đôi được, đem xắt khúc ngâm nước chừng mươi phút để xả chát, xào với thịt hay luộc, khẩu vị không khác đậu đũa hay đậu cô ve. Trong tiếng Thái Lan, hoa của cây này được gọi là dok khae, còn tiếng Indonesia thì gọi là bunga turi hay kembang turi.

Ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]