Tam cúc

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Cỗ bài Tam Cúc

Tam Cúc là tên một trò chơi bài lá dân gian phổ biến ở miền Bắc Việt Nam. Tam Cúc là thú chơi của tầng lớp bình dân và được nhiều tầng lớp chơi vì luật chơi khá đơn giản. Tam Cúc không chỉ được chơi khi giải trí, rỗi rãi mà trong các ngày lễ, Tết, nó cũng là trò chơi không thể thiếu. Người dân đồng bằng Bắc Bộ thường có tập quán chơi Tam Cúc trong lúc đợi nồi bánh chưng chín. Tuy nhiên, đối tượng chủ yếu chơi Tam Cúc vẫn là phụ nữ vì Tam Cúc có số bài ít, còn nam giới thì chơi Tổ Tôm nhiều hơn.

Quân bài[sửa | sửa mã nguồn]

Tam cúc

Bộ bài Tam Cúc có 32 lá bài gồm hai loại quân là quân đỏ và quân đen. Mỗi loại gồm các quân tướng (将 vẽ hính vị tướng có cờ cắm sau lưng), sĩ (士 vẽ hình vị quan đội mũ cánh chuồn), tượng (像 có vẽ hình con voi), xe (車 có vẽ hình cỗ xe), pháo (砲 có vẽ hình khẩu thần công), mã (馬 có vẽ hình con ngựa), tốt (卒 có vẽ hình người lính). Trong một bộ màu đỏ hoặc đen thì trừ tướng chỉ có 1 lá và tốt có 5 lá mỗi loại quân, các quân khác đều có 2 lá. Quân bài Tướng của loại quân đỏ được gọi là "tướng ông". Quân bài Tướng của loại quân đen được gọi là "tướng bà". Quân bài Sĩ của loại quân đỏ được gọi là Sĩ điều. Còn các quân khác đều gọi theo tên kèm màu sắc của loại quân. Số lượng và quân bài khá giống như các quân trong cờ tướng.

Lá bài làm bằng bìa mỏng, hình chữ nhật dài và hẹp, ở trên có ghi các tên bài bằng chữ Hán và có hình minh họa. Mặt sau thì giống hệt nhau cho cả 32 lá bài.

Mục đích chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Người nào có số lượng lá bài thắng nhiều nhất thì người đó xếp thứ nhất và tiếp theo đến người thứ hai, thứ ba..

Khái niệm[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bài Tam Cúc được phân định lớn nhỏ như sau: Tướng > Sĩ > Tượng > Xe > Pháo > Mã > Tốt.
  • Các quân bài cùng tên thì giá trị quân đỏ lớn hơn quân đen.
  • Các bộ quân trong bài:
Bộ đôi: Hai quân bài cùng màu, cùng tên như đôi Sĩ điều, đôi Pháo đen...
Bộ ba: Ba quân Tướng-Sĩ-Tượng, Xe-Pháo-Mã cùng màu. Nhưng Sĩ-Tượng-Xe hay Tượng-Xe-Pháo thì không phải là một bộ ba.
Tứ tử: Bốn quân Tốt cùng màu.
Ngũ tử: Năm quân Tốt cùng màu.

Cách chơi[sửa | sửa mã nguồn]

Tam Cúc có thể được chơi 4 người, 3 người hoặc 2 người. Nhưng nếu chơi ba người thì phải bỏ đi 1 con Tốt đỏ và 1 con Tốt đen hoặc bỏ đi 5 quân: Tướng ông, tướng bà, 1 sĩ điều, 1 sĩ đen và 1 tốt đen.

Ban đầu, một người sẽ trộn bài và một người bắt cái. Cái sẽ được tính bằng cách đếm theo chiều tay phải của người bắt cái và đọc lần lượt từ Tướng->Sĩ->Tượng->Xe->Pháo->Mã->Tốt. Lá bài được bắt cái có tên là gì thì việc đếm sẽ dừng lại ở người tương ứng với tên bài đó. Nhà cái sẽ được ra bài đầu tiên và được chia bài đầu tiên. Khác với bài Tứ Sắc, các quân bài được chia hết cho tất cả mọi người tham dự chiếu bài.

Người có cái sẽ ra bài đầu tiên và gọi bài. "một cây", "đôi cây" hay "ba cây"... được gọi thì những người chơi còn lại sẽ tương ứng cho ra số cây bài của mình. Các cây bài được ra với mặt phải (mặt có ký hiệu quân) được giữ kín và úp xuống chiếu bài. Khi mọi người đã ra đầy đủ bài thì người gọi bài sẽ lật bài đầu tiên rồi theo thứ tự những người bên cạnh, ai có lá bài có giá trị lớn nhất thì người đó được bài và giành cái. Tuy nhiên, tất cả mọi người được phép chui bài bằng cách chịu thua và không lật bài lên để khỏi lộ bài. Các bài thu bị gọi là rác và bị bỏ đi.

Đặc biệt:

Vì trường hợp một người có Ngũ tử hoặc Tứ tử hiếm khi xảy ra nên nếu chơi 2 người hoặc 4 người thì "Tứ tử trình làng", hạ nhóm quân Tứ tử đó xuống chiếu và được ăn, nhưng không được làm cái. Nếu có Ngũ tử thì có quyền cướp cái và trình làng bất cứ lúc nào. Nếu chơi 3 người thì có Tứ tử cũng sẽ được trình làng bất kỳ lúc nào và cướp cái. (Chơi 3 người không có Ngũ tử vì thiếu 2 con Tốt đỏ và Tốt đen).

Đến vòng bài cuối cùng trước khi hết quân, người cầm cái gọi đôi Tốt đen (nhóm quân có giá trị thấp nhất trong bài), nếu thắng thì được gọi là kết đôi, nếu cuối bài mà gọi được 3 Tốt đen thì được gọi là kết ba.

Tuỳ từng nơi chơi, từng hội chơi mà giá trị kết đôi hay kết ba được tính thêm điểm vào lúc tổng kết cuối mỗi ván chơi. Việc "đi đêm" cũng có nhiều hội chơi sử dụng, đó là cách tráo đổi quân giữa những người chơi sao cho có lợi cho cả hai bên để được nhiều nhóm quân hơn. Khi "đi đêm", các quân bài được úp mặt phải xuống chiếu để đảm bảo tên các quân tráo đổi được giữ kín.

Các từ ngữ có nguồn gốc xuất phát từ Tam Cúc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Đi đêm.
  • Tứ tử trình làng.
  • Ngũ tử cướp cái

Trong văn học[sửa | sửa mã nguồn]

Nhà thơ Hoàng Cầm có bài thơ về Cây Tam Cúc nổi tiếng và sau này được nhạc sĩ Phạm Duy phổ nhạc:

...Tướng sĩ đỏ đen chui sấp ngửa
Ổ rơm thơm đọng tuổi đương thì...
...Em đi đêm tướng điều sĩ đỏ
Đổi xe hồng đưa Chị đến quê Em...
...Thả tịnh vàng cưới Chị võng mây trôi
Em đứng nhìn theo Em gọi đôi.

Nhà thơ Hồ Dzếnh có bài thơ về Cỗ bài tam cúc:

...Từ đó mỗi mùa đào nở
Pháo xe lại rộn cây bài
Có độ anh về, có độ
Vắng anh, em nhớ mong hoài...

Nhà thơ Trần Đăng Khoa có bài thơ về Đánh tam cúc:

Đây là tướng ông
Chân đi hài đỏ
Đây là tướng bà
Tóc hiu hiu gió
Đây là con ngựa
Chân có bụi đường

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]