Thảo luận:Từ Hán-Việt

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm

Bảng chữ cái mà chúng ta đang dùng là phát triển từ bảng chữ cái La Mã (Roman alphabet). Việc sáng tạo ra chữ quốc ngữ này, tiếng Anh gọi là Romanization. Latinh là một họ ngôn ngữ, các ngôn ngữ trong họ này có thể kể : Ý, Pháp, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Rumani. Vậy chữ cái La Mã chứ không phải Latinh dù rằng các ngôn ngữ Latinh dùng chữ La Mã để viết. Tiếng Anh thuộc họ German nhưng cũng dùng chữ cái La Mã.

Có lẽ cả hai đều như nhau. Bạn có thể tham khảo en:Roman alphabet. --Á Lý Sa (thảo luận) 08:51, ngày 13 tháng 11 năm 2005 (UTC)

Từ Hán-Việt với ý nghĩa thay đổi[sửa mã nguồn]

Tôi loại đoạn bên dưới ra khỏi chính văn vì sai hoặc ít nhất là thiếu sự chính xác.

  • Có nhiều từ Hán-Việt đã thay đổi ý nghĩa qua các giai đoạn khác nhau. Thí dụ, vào đầu thế kỷ 20, ở Việt Nam, quan hệ có nghĩa tương đương với quan trọng, hệ trọng ngày nay, trong khi bây giờ quan hệ được hiểu là có liên quan, trao đổi lẫn nhau, hoặc là cách nói tắt của "quan hệ tình dục".

Đoạn trên có lẽ được viết theo Từ Điển Việt Nam của Lê Văn Đức & Lê Ngọc Trụ (tr. 1190, xb. năm 1970):

  • quan hệ tt. Hệ-trọng, quan-trọng, to lớn, đáng để ý: Chuyện này quan hệ lắm chớ chẳng phải chơi || Dính-dáng: Chuyện đó có quan hệ đến anh.

Nhưng các bộ cổ hơn là Việt Nam Tự Điển của nhóm Khai Trí Tiến Đức (1954), Hán Việt Từ Điển của Nguyễn Văn Khôn (1960), Thiều Chửu và Đào Duy Anh (Minh Tân, Paris 1950) cũng không ghi ý trên. Và xưa nay - theo các bộ từ điển Hán-Việt, Hán-Hán (ví dụ như Hán Ngữ Đại Từ Điển) - thì nghĩa thứ nhất của 關係 "quan hệ" luôn là "liên quan, trao đổi lẫn nhau, ràng buộc, dính dấp tới", không có sự biến đổi ý nghĩa như đoạn văn bên trên quả quyết. --Baodo 00:02, ngày 17 tháng 4 năm 2006 (UTC)

Tôi cũng thấy như vậy. Sự biến nghĩa này chỉ xảy ra không lâu, và không có tính phổ biến. Cách nói "quan hệ" như lối nói thay cho "quan hệ nam nữ", hoặc như trong bài đề cập đến cách dùng từ "y sỹ", ... cái đó mang tính cục bộ. ~ triplc

"Nhưng đọc theo âm hán việt", âm hán việt là âm gì ? Xiaoao (thảo luận) 05:14, ngày 7 tháng 6 năm 2008 (UTC)
"Âm Hán Việt" là âm đọc của chữ Hán theo âm tiếng Việt, như 國 đọc theo âm Hán Việt là "quốc".

Đề nghị gộp bài Phiên âm Hán-Việt vào bài này[sửa mã nguồn]

Ngữ âm và ngữ nghĩa luôn đi liền với nhau, không nên tách thành hai bài, một bài viết về nguồn gốc cách đọc của từ Hán Việt, không nói gì tới ý nghĩa của từ Hán Việt, một bài thì vừa viết về cách đọc của từ Hán Việt, tức là trùng lặp về nội dung với bài kia lại vừa viết về ý nghĩa của từ Hán Việt. YufiYidoh (thảo luận) 06:43, ngày 22 tháng 3 năm 2016 (UTC)

Trộm nghĩ không nên gộp lại vì phiên âm thường căn cứ vào những phép quảng vận, phiên thiết, v.v. trong khi veef ngữ vựng thì không ít từ Hán Việt không theo những phép đó. Duyệt-phố (thảo luận) 23:07, ngày 19 tháng 8 năm 2016 (UTC)

Hệ ngôn ngữ[sửa mã nguồn]

Nếu xếp tiếng Tàu, tiếng Việt (bao gồm tiếng Bắc, tiếng Nam), tiếng Hàn, tiếng Nhật vào 3 hệ ngôn ngữ khác nhau là ko thành thật, nếu thật lòng thì nên xếp 3 ngôn ngữ này vào chung một hệ. Ko biết các học giả ngôn ngữ làm cái phân loại này có động cơ mờ ám nào hay ko.

Nên viết thêm mục về từ Hán Việt có nhiều cách đọc khác nhau[sửa mã nguồn]

Trong từ Hán - Việt, có trường hợp duy nhất 1 chữ Hán nhưng mà có nhiều cách đọc chữ Hán - Viet khác nhau. Thí dụ như 生 sinh, có người đọc là sanh. Nhất là mấy quyển kinh Phật, người ta dùng chữ này. 正 chính, có người đọc là chánh. Trường hợp chữ Hán này tương đương với chữ 政. 盛 thịnh, có người đọc là thạnh. 领 lĩnh, có người đọc là lãnh. Thí dụ : lãnh đạo, lãnh tụ, lãnh thổ, lãnh hải, lãnh địa, v.v nhưng cũng từ này lại có cách đọc khác là cương lĩnh, chiếm lĩnh, tướng lĩnh, lĩnh lược, lĩnh giáo, v.v 平 bình, cũng có người đọc bằng. Thí dụ : hoà bình, thuỷ bình, địa bình, bình hành, bình quân, bình phương, bình phục, v.v nhưng cũng từ này lại có cách đọc khác là công bằng, thăng bằng. 沈 thẩm, có người đọc là trầm, nhất là tính thị (họ). 凤 phụng, có người đọc là phượng. 时 thì, có người đọc là thời. 任 nhậm hoặc nhâm có người đọc là nhiệm. Thí dụ : nhậm chức, nhậm dụng, hiện nhậm, nhâm lao, nhâm oán, nhâm nhân, v.v nhưng cũng từ này lại có cách đọc khác là bổ nhiệm, nhiệm kì, chủ nhiệm, nhiệm vụ, tín nhiệm. 命 mệnh, có người đọc là mạng mà khác nghĩa hoàn toàn với mạng lưới (网). V.v v.v còn rất nhiều từ khác nữa. Donghai02 (thảo luận) 04:55, ngày 8 tháng 11 năm 2017 (UTC)

Đây là những biến-chuyển của tiếng Việt bị chi-phối bởi lệ kỵ húy hay cách phát-âm địa-phương như cảnh đọc kiểng, kính đọc kiếng. Tuy-nhiên cũng có nhiều trường-hợp tùy chữ mà đọc dù cùng một địa-phương như: thủ lĩnh thì dùng "lĩnh" nhưng lãnh tụ , lãnh đạo thì lại chọn "lãnh". Nói chung thì đây là biến-hóa của âm-vựng tiếng Việt chứ không phải bởi Hán Việt vì chữ Nôm cũng theo lệ đó. Dù vậy ý của bạn tôi nghĩ là những trường-hợp như Nguyễn Hữu Cảnh cũng đọc là Nguyễn Hữu Kính tuy cùng một dạng chữ.

Duyệt-phố (thảo luận) 23:02, ngày 8 tháng 11 năm 2017 (UTC)

Tôi nói thật, chữ Cảnh so với chữ Kính, nghĩa nó sai lệch hoàn toàn. Không hiểu tại sao người Việt Nam chế biến ngôn ngữ 1 cách kì lạ và khó hiểu. Nó chỉ phục vụ cho đời sống tinh thần, chứ không phục vụ cho khoa học nghiên cứu chữ viết. Hơn nữa thời bình rồi, không nên lạc hậu bởi lệ kị huý.
Trung Quốc (TQ) có rất nhiều tiếng địa phương, sau tuyên bố độc lập, trải qua thời kì Văn Cách, người dân mù chữ không tiếp cận được tri thức, lúc này bè lũ 4 tên lập ra hệ thống chữ viết giản thể yêu cầu Mao kí duyệt để cho người dân học. Và sau này toàn bộ dân TQ đều phải theo bảng chữ cái đó. Chữ Trung Quốc có ngữ pháp khá hoàn thiện mà ở Việt Nam nó còn rất mập mờ gần như nó không có công thức về ngữ pháp. Tôi nói vậy nghĩa là TQ phải chịu đau thương để học tiếng Bắc Kinh. Donghai02 (thảo luận) 17:05, ngày 9 tháng 11 năm 2017 (UTC)
Trường-hợp bạn nêu lên đúng ra phải như trường hợp chữ này: 拗, có cả thảy 4 âm: ảo, áo, nữu, húc. Tất cả đều là âm riêng, không như những trường-hợp kỵ-húy chỉ đọc trại của sinh/sanh, phụng/phượng v.v. Duyệt-phố (thảo luận) 00:50, ngày 13 tháng 11 năm 2017 (UTC)