Thanh Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Nghệ sĩ Nhân dân
Thanh Nam
Thông tin cá nhân
SinhPhạm Hoàng Nam
1958 (60–61 tuổi)
Châu Thành, Hậu Giang
Quốc tịch Việt Nam
Nghề nghiệp
  • Nghệ sĩ cải lương
  • Diễn viên
VợNSƯT Y Phượng
Lĩnh vựcCải lương
Điện ảnh
Giải thưởng

Thanh Nam tên khai sinh Phạm Hoàng Nam (sinh năm 1958) là một nghệ sĩ cải lương, diễn viên hài, diễn viên điện ảnh người Việt Nam. Ông nổi danh với biệt danh Hề Thanh Nam, từng được báo Sân khấu (Hội Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh) bình chọn là danh hài được yêu thích nhất năm 1995, 1996. Ông cũng được bầu chọn là Diễn viên chính được yêu thích nhất giải HTV Awards 2010. Hiện ông là trưởng Đoàn nghệ thuật cải lương nhân dân Kiên Giang.[cần dẫn nguồn]

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh năm 1958 tại quận Châu Thành, tỉnh Phong Dinh (nay thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang).

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 17 tuổi, ông được tuyển vào Đoàn Văn công huyện Châu Thành. Tại đây, ông được các nghệ nhân đờn ca Tư Bé, Sáu Chăm truyền dạy nhiều bài cải lương. Không lâu sau, ông chuyển về Đoàn cải lương Dạ Lan Hương. Trong một lần kép hề tên Sỹ Liêm bị bệnh, không ai đóng vai Tý theo hầu nhân vật Dương Lễ (vở Lưu Bình – Dương Lễ), ông được đóng thế, từ đó gắn cả sự nghiệp mình với những vai hài.

Năm 1978, ông chính thức bước vào con đường diễn viên cải lương chuyên nghiệp với Đoàn cải lương Kiên Giang II. Hai năm sau, ông về Đoàn cải lương nhân dân Kiên Giang và làm tại đây đến nay. Ông được nhiều người tín nhiệm cử vào tham gia công tác quản lý, làm Phó đoàn phụ trách nghệ thuật và hiện tại là Trưởng Đoàn cải lương nhân dân Kiên Giang.

Trong sự nghiệp diễn xuất của mình, ông thể hiện khá thành công những vai ông già Nam Bộ với tính cách và ngữ điệu của các lão nông tri điền. Nhiều vai diễn thành công như ông Tư Kèn trong Quãng đời còn lại (Huy chương bạc Hội diễn Sân khấu cải lương chuyên nghiệp toàn quốc năm 2000), ông Tư Chờ trong Niềm đau gia phả (Huy chương vàng Liên hoan sân khấu khu vực Nam Bộ), Hương quản Mùi trong Tiếng chuông chùa Tam Bảo (giải B), Độ Lượng trong Tiếng thét nơi pháp trường (Bằng khen)... Ngoài ra ông còn được tặng Huy chương Vì sự nghiệp Văn hóa cùng nhiều bằng khen khác. Ở lĩnh vực hài, năm 1991, ông được xếp hàng thứ ba trong 10 danh hài được yêu thích nhất, do Báo Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức với hình thức trưng cầu ý kiến độc giả. Cũng cuộc trưng cầu ý kiến này, năm 1996 ông được xếp hàng thứ tư trong 20 danh hài được yêu thích nhất.

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ông lập gia đình với nghệ sĩ cải lương Y Phượng, là thành viên Đoàn cải lương nhân dân Kiên Giang từ năm 1978. Bà từng đoạt được Huy chương bạc Hội diễn Sân khấu cải lương chuyên nghiệp toàn quốc năm 2000 (với vai diễn Bình trong "Quãng đời còn lại"), Huy chương bạc Liên hoan sân khấu khu vực Nam Bộ năm 2002 (với vai Bích trong "Niềm đau gia phả"), từng được đề cử danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú cùng đợt với chồng. Ông có con gái là ca sĩ Phạm Phương Thảo, con trai nuôi Phạm Hoàng Thái.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]