Thanh Nam

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Thanh Nam
Nghệ sĩ Nhân dân
Thông tin cá nhân
SinhPhạm Hoàng Nam
1958 (63–64 tuổi)
Châu Thành, Hậu Giang, Việt Nam Cộng hòa
Giới tínhnam
Quốc tịch Việt Nam
Nghề nghiệp
  • Nghệ sĩ cải lương
  • Diễn viên
VợY Phượng
Con cáiPhạm Phương Thảo, Phạm Hoàng Thái
Lĩnh vựcCải lương
Điện ảnh
Danh hiệu

Thanh Nam (sinh năm 1958) là một nghệ sĩ cải lương, diễn viên hài, diễn viên điện ảnh người Việt Nam. Ông nổi danh với biệt danh Hề Thanh Nam, từng được báo Sân khấu (Hội Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh) bình chọn là danh hài được yêu thích nhất năm 1995, 1996. Ông cũng được bầu chọn là Diễn viên chính được yêu thích nhất giải HTV Awards 2010. Hiện ông là trưởng Đoàn nghệ thuật cải lương nhân dân Kiên Giang.

Thân thế[sửa | sửa mã nguồn]

Ông sinh năm 1958 tại quận Châu Thành, tỉnh Phong Dinh (nay thuộc Châu Thành, Hậu Giang).

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 17 tuổi, ông được tuyển vào Đoàn Văn công huyện Châu Thành. Tại đây, ông được các nghệ nhân đờn ca Tư Bé, Sáu Chăm truyền dạy nhiều bài cải lương. Không lâu sau, ông chuyển về Đoàn cải lương Dạ Lan Hương. Trong một lần kép hề tên Sỹ Liêm bị bệnh, không ai đóng vai Tý theo hầu nhân vật Dương Lễ (vở Lưu Bình – Dương Lễ), ông được đóng thế, từ đó gắn cả sự nghiệp mình với những vai hài.

Năm 1978, ông chính thức bước vào con đường diễn viên cải lương chuyên nghiệp với Đoàn cải lương Kiên Giang II. Hai năm sau, ông về Đoàn cải lương nhân dân Kiên Giang và làm tại đây đến nay. Ông được nhiều người tín nhiệm cử vào tham gia công tác quản lý, làm Phó đoàn phụ trách nghệ thuật và hiện tại là Trưởng Đoàn cải lương nhân dân Kiên Giang.

Trong sự nghiệp diễn xuất của mình, ông thể hiện khá thành công những vai ông già Nam Bộ với tính cách và ngữ điệu của các lão nông tri điền. Nhiều vai diễn thành công như ông Tư Kèn trong Quãng đời còn lại (Huy chương bạc Hội diễn Sân khấu cải lương chuyên nghiệp toàn quốc năm 2000), ông Tư Chờ trong Niềm đau gia phả (Huy chương vàng Liên hoan sân khấu khu vực Nam Bộ), Hương quản Mùi trong Tiếng chuông chùa Tam Bảo (giải B), Độ Lượng trong Tiếng thét nơi pháp trường (Bằng khen)... Ngoài ra ông còn được tặng Huy chương Vì sự nghiệp Văn hóa cùng nhiều bằng khen khác. Ở lĩnh vực hài, năm 1991, ông được xếp hàng thứ ba trong 10 danh hài được yêu thích nhất, do Báo Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức với hình thức trưng cầu ý kiến độc giả. Cũng cuộc trưng cầu ý kiến này, năm 1996 ông được xếp hàng thứ tư trong 20 danh hài được yêu thích nhất.

Ngày 29/8/2019, ông vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân năm đợt IX - 2019 cùng với các nghệ sĩ cải lương gạo cội: NSND Thanh Tuấn, NSND Thanh Ngân, NSND Thoại Miêu, NSND Minh Vương, NSND Giang Châu, NSND Việt Anh...

Phim đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Phim truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa Phim Vai diễn Kênh
2003 Thời vi tính HTV9
2005 Người đánh trống trường
2009 Cuộc phiêu lưu của hai lúa Ông Hai Lúa
Những cuộc tình trắng đen
2011 Người hoàn hảo Ông Phước Lợi HTV9
Sắc màu hạnh phúc Ông Nội SCTV14
Về quê cưới vợ Ông Ba Lém
2012 Xuân tình Ông Năm Chỉ VTV9
Mua láng giềng gần Ông Tư Huỳnh HTV7
Tay chơi miệt vườn Ông Tổ SCTV14
Cô nàng nặng cân Ông Tâm THVL1
2013 Sông dài Ông Hai Tuất VTV9
2014 Cha rơi Ông Ba Trí
Hàng xóm Ông Tơ
Khung trời mơ ước Ông Hai HTV9
2015 Tấm lòng của biển Ông Du
Cuộc phiêu lưu của hai lúa 2 Ông Hai Lúa THVL1
Nhà chung Ông Bảy Núi Sập VTV9
2016 Dòng nhớ Cậu Út THVL1
Song sinh bí ẩn Ông Sáu Giàu
2018 Bố là tất cả Ông Minh Hiếu HTV7
Ngậm ngùi Ông Ba THVL1
2019 Ngũ hợi tấn hỷ Ông Minh Dương HTV7
Con ông hai lúa Ông Hai Lúa THVL1
Dập tắt lửa lòng Ông Tư Trê
Dzìa đi tía ơi Ông Ba Đía SCTV14
Tiếng sét trong mưa Ông Quý THVL1
2020 Làm rể Mười Xuân Ông Mười Xuân HTV7
Yêu trong đau thương Ông Bảy Khá VTV3
Bánh mì ông Màu Ông Màu HTV7
Vương miện xương rồng Ông Đồ
2021 Bánh mì ông Màu 2 Ông Màu
2022 Hẹn hò cùng thần tượng Ông Lộc SCTV14
Sống ảo mất thật Bác Hai HTV9
Sui gia hay xui gia Ông Bảnh HTV7

Phim điện ảnh[sửa | sửa mã nguồn]

Năm Tựa Phim Vai diễn
2005 Lấy vợ sài gòn
2014 Hai lúa Ông Hai Lúa
2016 Sài Gòn, anh yêu em Ông Sáu Lương

Gia đình[sửa | sửa mã nguồn]

Ông lập gia đình với nghệ sĩ cải lương Y Phượng, là thành viên Đoàn cải lương nhân dân Kiên Giang từ năm 1978. Bà từng đoạt được Huy chương bạc Hội diễn Sân khấu cải lương chuyên nghiệp toàn quốc năm 2000 (với vai diễn Bình trong "Quãng đời còn lại"), Huy chương bạc Liên hoan sân khấu khu vực Nam Bộ năm 2002 (với vai Bích trong "Niềm đau gia phả"), từng được đề cử danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú cùng đợt với chồng. Ông có con gái là ca sĩ Phạm Phương Thảo.[cần dẫn nguồn]

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]