Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
(đổi hướng từ HTV9)
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh
Loại hình
Tập đoàn Truyền thông, Đài Truyền hình
Ngành nghềSản xuất chương trình
Kinh doanh nội dung
Phát sóng truyền hình
Tiền thânĐài Truyền hình Việt Nam (Việt Nam Cộng hòa)
Thành lập22 tháng 1 năm 1966; 54 năm trước (1966-01-22) (Đài THVN)[1]
1 tháng 5 năm 1975; 45 năm trước (1975-05-01) (Đài TH SGGP)[2][3]
2 tháng 7 năm 1976; 44 năm trước (1976-07-02) (Đài TH TP.HCM)
Trụ sở chính14 Đinh Tiên Hoàng, Q.1, TP.HCM
9 Nguyễn Thị Minh Khai, Q.1, TP.HCM
Khu vực hoạt độngToàn cầu (online)
Châu Á - Úc (vệ tinh)
Nhân viên chủ chốt
Tổng Giám Đốc: Dương Thanh Tùng
Phó Tổng Giám Đốc: Cao Anh Minh, Diệp Bửu Chi, Thái Thành Chung
Dịch vụTruyền hình vệ tinh
Truyền hình mặt đất
Truyền hình cáp
Truyền hình TVoD
Truyền hình trực tuyến
Viễn thông
Chủ sở hữuỦy ban Nhân dân TP.HCM
Số nhân viên
750
Chi nhánhHTV Hà Nội
Phim trường HTV Hòa Phú
Công ty con
Khẩu hiệuĐiểm hẹn truyền hình mỗi ngày của bạn
WebsiteHTV
HTV Online

Đài Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (tiếng Anh: Ho Chi Minh City Television, viết tắt: HTV) là đài truyền hình của Thành phố Hồ Chí Minh, trực thuộc Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Tiền thân của Đài là Đài Truyền hình Sài Gòn Giải phóng - tiếng nói của nhân dân Sài Gòn - Gia Định, phát sóng buổi đầu tiên lúc 19 giờ ngày 1 tháng 5 năm 1975[4][5][6]. Trước đó, Đài mang tên Đài Truyền hình Việt Nam, trực thuộc Bộ Dân vận Việt Nam Cộng Hòa, lên sóng lần đầu năm 1965 và chấm dứt hoạt động vào ngày 29 tháng 4 năm 1975.

HTV hiện đang là tập đoàn truyền thông đa phương tiện chủ lực, quan trọng hàng đầu trong hệ thống truyền hình Việt Nam và dẫn đầu về lượng người xem ở khu vực phía Nam. Với rất nhiều thành công và những bước phát triển nhảy vọt, HTV đã trở thành một đài truyền hình “có tầm” không chỉ ở Việt Nam mà cả trong khu vực, phục vụ cho nhu cầu thông tin trong nước và đối ngoại. Hiện nay, đài có 7 kênh quảng bá và 10 kênh trả tiền.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn khai sinh truyền hình tại Việt Nam, 1965-1966[sửa | sửa mã nguồn]

Trụ sở đài THVN9 (trong ảnh ghi là Vietnamese TV) và đài AFVN với tháp truyền hình đầu tiên của Việt Nam cao 128m xây dựng năm 1966. Đây là khu vực của trụ sở HTV ngày nay. Ảnh: virtual-saigon.net

Năm 1965, Đài Truyền hình đầu tiên của Việt Nam được thành lập là Đài Truyền hình Việt Nam (THVN, không phải Đài Truyền hình Việt Nam hiện nay), do Tổng cục Truyền thanh - Truyền hình và Điện ảnh điều hành dưới quyền Bộ Dân vận, Việt Nam Cộng Hòa. Giám đốc đầu tiên của THVN là Trung tá Đỗ Việt, Phó Giám đốc là ông Lê Hoàng Hoa. Trụ sở và địa điểm thu hình của đài ban đầu là một trường quay nhỏ ở Trung tâm Điện ảnh Quốc gia, số 15 Thi Sách, Sài Gòn.

Cùng lúc với việc thiết lập THVN, hệ thống phát thanh - truyền hình của Quân đội Mỹ cũng hình thành. Đài này lúc đầu gọi là AFRTS (American Forces Radio and Television Service), đến năm 1967 đổi thành AFVN (American Forces Vietnam Network). Đài phát bằng tiếng Anh, đối tượng phục vụ chính là binh lính Mỹ đang làm việc tại miền Nam. Trụ sở chính của AFVN nằm ở số 9 Hồng Thập Tự, Sài Gòn (nay là số 9 Nguyễn Thị Minh Khai).

Ngày 22 tháng 1 năm 1966, chương trình truyền hình đen trắng thử nghiệm đầu tiên được phát sóng. Đến ngày 7 tháng 2 cùng năm, truyền hình chính thức phát sóng tại miền Nam. Trong thời gian đầu, do chưa có tháp truyền hình nên việc phát sóng được thực hiện bằng kỹ thuật stratosvision (dùng trực thăng để phát sóng). Các chương trình, kể cả tin tức, đều được thu vào băng từ (video tape) rồi được chuyển lên máy bay Super Constellation bốn động cơ. Mỗi tối, máy bay này chở hàng tấn máy móc rời phi trường Tân Sơn Nhứt lên tới độ cao ổn định là 3.150 m tại một địa điểm phía đông nam Sài Gòn khoảng 32 km, rồi từ đó bay theo một lộ trình không thay đổi, lặp lại mỗi đêm với tốc độ ổn định là 271 km/giờ. Trong máy bay có hai máy phát hình mạnh 2.000 kW, hai máy thu hình và tiếng vào băng, hai hệ thống kiểm soát âm thanh, hai hệ thống vô tuyến điện ảnh dùng phim 16 ly. Sóng truyền hình từ trực thăng có thể thu được ở những nơi xa Sài Gòn như Đà Nẵng, Cà Mau hoặc Phnom Penh (Campuchia), nhưng chỉ Sài Gòn và các tỉnh lân cận mới có chất lượng hình ảnh & âm thanh hoàn hảo. Các chương trình được phát sóng suốt 4 giờ liên tục từ 19:00-23:59 mỗi ngày, bao gồm 2 phần: phần đầu (từ 19:00-20:00) là chương trình của THVN, phần còn lại là chương trình của AFVN.

Tiếp đến, AFVN tiến hành xây đựng tháp truyền hình tại số 9 Hồng Thập Tự. Việc xây dựng diễn ra rất nhanh, các kết cấu thép được lắp ráp sẵn dưới đất theo từng đoạn và dùng máy bay trực thăng đưa lên. Chỉ sau một thời gian ngắn, ngày 25 tháng 10 năm 1966, tháp truyền hình đầu tiên của Việt Nam được hoàn thành và đưa vào sử dụng, thay thế cho việc phát sóng bằng máy bay trực thăng trước đó. Tháp cao 128m, là nơi đặt anten phát sóng Kênh 9 của THVN (được gọi là THVN9 từ đó), Kênh 11 và FM 99.9 MHz của AFVN.

Năm 1967, Điện ảnh và Truyền hình tách riêng, Đài THVN9 chuyển về số 9 Hồng Thập Tự - cùng địa chỉ với AFVN nhưng có tường ngăn.

Các năm sau đó, hệ thống AFVN tiếp tục được mở rộng. Ngoài trụ sở chính tại Sài Gòn, Đài này còn có nhiều văn phòng và trạm tiếp sóng rải đều khắp Việt Nam Cộng Hòa: Quảng Trị, Huế, Đà Nẵng, Chu Lai, Pleiku, Quy Nhơn, Tuy Hòa, Đà Lạt, Nha Trang, Mỹ Tho, Cần Thơ.

Ở giai đoạn này, truyền hình hoàn toàn chưa được nhắc tới tại miền Bắc.

Giai đoạn phát triển thời Việt Nam Cộng Hoà, 1967-1975[sửa | sửa mã nguồn]

Hoàng Trọng và ban Tiếng Tơ Đồng trong một chương trình ca nhạc trên THVN9 năm 1968.

Chương trình phát hình của THVN9 bắt đầu từ 18:00 bằng nhạc hiệu: "Này công dân ơi, đứng lên đáp lời sông núi…" với hình ảnh các thắng cảnh Việt Nam. Một số chương trình tiêu biểu có nhiều người xem như: Hoa thế hệ (giới thiệu những diễn viên nhí cải lương, hồ quảng… Nghệ sĩ Phượng Mai xuất thân và nổi bật trong chương trình này), Ban thiếu nhi Tuổi Xanh của bà Kiều Hạnh, chương trình thiếu nhi Xuân Phát của nghệ sĩ Xuân Phát, chương trình thiếu nhi Hoa bách hợp của Hội Hướng Đạo Việt Nam, chương trình ca nhạc thiếu nhi Nguyễn Đức của nhạc sĩ Nguyễn Đức (các ca sĩ nữ có họ Phương đều xuất thân từ lò đào tạo Nguyễn Đức: Phương Hồng Ngọc, Phương Hoài Tâm, Phương Hồng Quế…), Ban thiếu nhi Gió Khơi chuyên biểu diễn hòa tấu đàn mandolin và các tiết mục múa về quê hương (do thầy Hưng và cô Phấn nhà ở đường Nguyễn Tiểu La, Quận 10 sáng lập), chương trình Đố vui để học do Vũ Khắc Khoan điều khiển, Đinh Ngọc Mô phụ trách. Sau đó là chương trình thời sự, tin tức. Lúc đó là thời chiến nên THVN9 thường phát các bản tin chiến sự ở 4 vùng chiến thuật. Các bản tin này được xen kẽ vào nội dung các chương trình giải trí: Cải lương (lúc đầu phát hình vào mỗi tối thứ Ba, sau đó đổi qua thứ Bảy) có các đoàn: Thanh Minh – Thanh Nga, Dạ Lý Hương, Minh Tơ, Huỳnh Long…; Ca vũ nhạc: Hoàng Thi Thơ, chương trình tạp lục Tùng Lâm…; Kịch nói có các đoàn: Kim Cương, Thẩm Thúy Hằng, Túy Hồng, Vũ Đức Duy…

Điều rất bất ngờ và cũng có thể gây ngạc nhiên cho nhiều người là chỉ sau hơn 1 năm hoạt động, THVN9 đã tổ chức cuộc thi tuyển lựa Hoa hậu truyền hình. Chi tiết này cho thấy sự năng động, sáng tạo, “nhằm mục đích góp phần linh động chương trình phát sóng hằng tuần của đài”; và nhanh nhạy tiếp thu cái mới “như các đài ngoại quốc thường làm”. Cuộc thi diễn ra trong vòng 4 tháng, từ tháng 6 đến tháng 9 năm 1967[7].

Thời lượng phát hình của THVN9 vào đầu thập niên 1970 là 6 giờ mỗi ngày, bắt đầu từ 18:00 và kết thúc vào nửa đêm. Khi đó, 80% dân số ở miền Nam có thể bắt sóng xem được. Tính bình quân cứ mỗi 50 người dân thì có một tivi; tổng cộng hơn 350.000 máy trên toàn quốc. Ngân sách của THVN9 vào năm 1970 là 1,3 triệu USD.

Trụ sở Truyền hình Đắc Lộ, Hãng Truyền hình tư nhân đầu tiên của Việt Nam chuyên sản xuất các chương trình khoa giáo phát trên THVN9.

Cùng với sự phát triển của THVN9, năm 1972, Truyền hình Đắc Lộ cũng được thành lập. Đây là một hãng truyền hình tư nhân thuộc Giáo hội Công giáo VNCH, do các tu sĩ Dòng Tên điều hành và có trụ sở tại số 171 Yên Đỗ (nay là Lý Chính Thắng). Truyền hình Đắc Lộ không có kênh phát sóng riêng mà chỉ sản xuất các chương trình khoa giáo để phát sóng trên THVN9, tập trung vào việc truyền đạt kiến thức cơ bản để nâng cao cuộc sống và phẩm giá người nghèo.

Năm 1972, AFVN bắt đầu giảm hoạt động và ngày 22 tháng 3 năm 1973, sau khi Hiệp định Paris có hiệu lực, AFVN chấm dứt hẳn. Hầu hết cơ sở vật chất và thiết bị kỹ thuật của AFVN được chuyển giao cho THVN9 quản lý. Mạng lưới của THVN9 vì thế đã mở rộng ra toàn Việt Nam Cộng Hòa.

23:59 ngày 29 tháng 4 năm 1975, THVN9 kết thúc buổi phát hình của mình bằng lời chào và Quốc ca như thường lệ. Đó là buổi phát sóng cuối cùng của Đài với biểu trưng THVN9. Ngay sau thời khắc Sài Gòn sụp đổ, chiều 30 tháng 4 năm 1975, đoàn tiếp quản kế thừa toàn bộ cơ sở vật chất của Đài, đổi tên thành Đài Truyền hình Sài Gòn Giải Phóng (SGGP). Đêm hôm đó, Đài không phát sóng và đó là đêm ngưng sóng duy nhất của Đài từ khi thành lập cho tới nay.

Giai đoạn sau thống nhất, 1975-1985[sửa | sửa mã nguồn]

Tổng đạo diễn Lâm Mộc Khôn (người đứng trước máy quay) của buổi phát sóng đầu tiên sau ngày thống nhất. Ảnh: Truơng Nghĩa Tiến / HTV.

Sau một đêm Sài Gòn không có truyền hình, đúng 19:00 ngày 1 tháng 5 năm 1975, ông Lê Minh Hiền - nhà báo từ Hà Nội vào, đã phát lệnh cho Đài Truyền hình SGGP phát sóng chương trình phát hình đầu tiên. Trên màn ảnh nhỏ xuất hiện lá cờ Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam bay phấp phới trong tiếng quân thiều (bài Giải phóng miền Nam của Huỳnh Minh Siêng). Rồi hai phát thanh viên Hồ Mỹ Hạnh và Nguyễn Hữu Phước xuất hiện. Mỹ Hạnh cất giọng đọc: "Đây là đài vô tuyến truyền hình SGGP, phát đi từ Sài Gòn. Kính chào đồng bào ruột thịt và yêu quý! Kể từ giờ phút lịch sử và xúc động này, hồi 11 giờ 30 phút ngày 30 tháng 4 năm 1975, thành phố anh hùng và vinh quang của chúng ta đã được giải phóng…”[8]. Thời khắc ấy cũng là dấu mốc quan trọng mở ra chặng đường phát triển mới của Đài truyền hình TP.HCM.

Huyện Trìa (Thanh Điền) và Thị Hến (Thanh Kim Huệ) trong vở cải lương Ngao Sò Ốc Hến, do HTV ghi hình năm 1982. Đây là một trong những vở cải lương đặc sắc của Đoàn Cải lương Sài Gòn 1 và đã được phát đi phát lại rất nhiều lần trên HTV vào thập niên 1980. Ảnh: Chụp từ màn hình.

Theo kỹ sư điện thanh - nhạc sĩ Vĩnh Lai thì sau khi Buôn Ma Thuột thất thủ, ngày 12 tháng 4 năm 1975, Ban Tuyên huấn Trung ương đã quyết định thành lập một đoàn gồm 12 người đang làm việc tại Cục Kỹ thuật phát thanh của Đài Tiếng nói Việt Nam. Lúc 15:45 ngày 30 tháng 4 năm 1975, đoàn vào chiếm lĩnh THVN9.

Đêm tiếp quản Đài THVN9, đoàn tiếp quản phải nằm ngủ ngoài hành lang, không dám vào khu trung tâm vì bị cài bom. Sau khi kiểm tra thấy toàn bộ thiết bị, máy móc của đài vẫn còn nguyên vẹn nên báo cáo lên Ban Quân quản và lãnh đạo đài, được lệnh: “Cố gắng thực hiện chương trình phát sóng ngay trong đêm 1 tháng 5 năm 1975”. Tuy nhiên, đội ngũ chuyên trách về kỹ thuật của đoàn tiếp quản khi ấy còn rất lạ lẫm với các máy móc thiết bị hiện đại của THVN9.

Rất may, trong buổi sáng hôm đó có một vài nhân viên cũ đến trình diện. Họ cùng các nhân viên cũ và đoàn tiếp quản vận hành máy móc, chuẩn bị ổn thỏa cho đêm phát hình đầu tiên thành công, ấn tượng[9].

Không được như Sài Gòn, truyền hình tại các tỉnh thành khác ở miền Nam ngưng hoạt động và chịu sự quản lý của đoàn tiếp quản. Nhiều máy móc, thiết bị tại các nơi này và cả ở Sài Gòn được vận chuyển ra Hà Nội để bổ sung cơ sở vật chất vốn rất nghèo nàn và lạc hậu cho Đài Tiếng nói Việt Nam (nơi được cho là đang phát sóng một kênh truyền hình từ năm 1973). Các cơ sở truyền hình tại Huế, Đà Nẵng, Tuy Hòa, Cần Thơ trở thành tài sản của Đài Truyền hình Trung Ương, còn lại được quản lý bởi các đài phát thanh - truyền hình địa phương.

Cùng thời điểm sau ngày thống nhất, Dòng Tên Sài Gòn đã chủ động hiến khu vực Truyền hình Đắc Lộ, bao gồm phim trường và toàn bộ trang thiết bị cho chính quyền mới tiếp quản. Lúc kiểm tra kho băng video tại đây, đoàn quản lý Truyền hình SGGP đã hết sức ngạc nhiên và vui mừng vì nội dung không hề đề cập đến tôn giáo, trong khi tất cả nhân sự sản xuất các chương trình đó đều là tu sĩ. Vậy là, ngày 3 tháng 10 năm 1975, hãng Truyền hình Đắc Lộ mở cửa trở lại với tên mới "Truyền hình SGGP cơ sở 2", các chương trình giáo dục theo đó quay trở lại sóng truyền hình SGGP sau 5 tháng gián đoạn. Ban quản lý của cơ sở 2 này gồm có Giám đốc Hồ Vĩnh Thuận, Trưởng phòng Chuyên mục Khái Hùng, Phó phòng Mai Thành (nữ tu, phụ trách Giáo dục Thiếu nhi).

Ngày 2 tháng 7 năm 1976, Sài Gòn chính thức được đổi tên thành TP. Hồ Chí Minh, Đài Truyền hình SGGP cũng được đổi thành Đài Truyền hình TP.HCM (HTV).

Từ 1975 đến 1981, với vai trò là đài khu vực Nam Bộ, HTV đã giúp đỡ cho các đài phía Nam (cũng là các chi nhánh của đài trước 1975) khôi phục lại cơ sở vật chất hoặc xây dựng thêm. Năm 1981, HTV được chuyển giao về UBND TP.HCM và hạ cấp thành Đài truyền hình địa phương. Cơ sở 2 của đài được giao lại cho Đài Truyền hình Trung Ương quản lý.

Cũng như tình hình chung của xã hội bao cấp, trong giai đoạn này, HTV phải hoạt động trong sự thiếu hụt kinh phí triền miên. Biên chế có lúc lên đến hơn 1.200 người nhưng lao động thực tế lại thiếu trầm trọng, chính sách tiền lương bất cập, chế độ thù lao - nhuận bút lạc hậu... khiến nội bộ đài rất bức xúc. Nhiều người cũ của THVN9 không chịu nổi đã xin chuyển cơ quan hoặc về hưu sớm.

Giai đoạn đổi mới, 1986-1993[sửa | sửa mã nguồn]

Tình hình HTV ngày càng bi đát, đến mức chỉ vì thiếu tiền cải tạo hệ thống điện đã quá cũ kỹ mà đêm 23 tháng 8 năm 1987, trận hỏa hoạn lớn xảy ra thiêu hủy toàn bộ trung tâm truyền hình, chỉ còn lại đài phát sóng và bộ phận tư liệu. Tuy nhiên, ngay đêm hôm sau, HTV chuyển qua phát hình màu và chấm dứt hệ đen trắng, tạo ra một bước ngoặt lịch sử mới cho ngành truyền hình Việt Nam.

Khoảng năm 1977, đài cho lên sóng trở lại kênh FM 99.9 MHz, với tên gọi là đài "Tin tức - Ca nhạc và Báo giờ". Đây là kênh FM duy nhất của Việt Nam tại thời điểm đó, phát sóng từ 6 giờ sáng đến 24 giờ đêm. Nội dung của FM 99.9 MHz bao gồm báo giờ (chuông và phát thanh viên đọc "Bây giờ là ... giờ"), tiếp đến là tin tức đầu giờ đúng 5 phút, sau đó là các chương ca nhạc, ca cổ, nhạc hòa tấu và thính phòng (có giờ phát nhất định cho mỗi thể loại) cho đến đầu giờ tiếp theo. Nội dung ca nhạc, ca cổ Việt Nam do đài tự ghi âm hoàn toàn. Có khi đài cũng phát các vở cải lương dài nhưng cắt ra nhiều phần để phù hợp với cấu trúc phát sóng. Tuy cùng lúc quản lý cả truyền hình và kênh phát thanh FM nhưng đài chưa bao giờ dùng tên "Phát thanh - Truyền hình TP.HCM". Người nghe cũng sẽ không thể nhận ra mối liên hệ nào giữa FM 99.9 MHz với Kênh 9 của đài, trừ việc phát thanh viên truyền hình cũng là người đọc tin tức trên sóng FM 99.9 MHz.

Kịch và ca nhạc là 2 thể loại nổi bật trên HTV từ đầu thập niên 1980, và phát triển rất mạnh trong giai đoạn này. Các vở chính kịch vào các ngày thứ bảy thu hút đông đảo khán giả. Đặc biệt, kịch hài Trong nhà ngoài phố mỗi tối Thứ Năm và Táo quân đêm giao thừa với sự dẫn dắt của hai đạo diễn Trần Văn Sáu và Thế Ngữ đã tạo hiệu ứng mạnh trong xã hội: Các văn nghệ sĩ nổi tiếng của miền Nam khi đó đều có điểm xuất phát từ đây, nhiều thuật ngữ, câu nói trong Trong nhà ngoài phố thành câu cửa miệng trong đời sống.

Năm 1986, bên cạnh Kênh 9 đang phát sóng, HTV bắt đầu phát thử nghiệm Kênh 7 (nay là HTV7). Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Kênh 7 đã lên sóng chính thức với chức năng là kênh Dịch vụ - Thông tin rao vặt của HTV. Cùng với sự ra đời của Kênh 7, lần đầu tiên quảng cáo chính thức quay lại trên sóng truyền hình kể từ sau năm 1975 và cũng là lần đầu tiên một đài truyền hình của Việt Nam phát 2 kênh có nội dung độc lập. HTV bắt đầu có nguồn thu từ đó.

Poster Cúp Truyền hình 1989

Từ năm 1990, HTV bắt đầu chuyển hướng bằng việc đề xuất với cấp trên cho phục hồi tính năng kinh tế của ngành truyền hình. Tập thể lãnh đạo đài đã mạnh dạn thử nghiệm ứng dụng các chế độ nhằm kích thích tăng năng suất, điều tiết lao động, giảm biên chế, thí điểm xây dựng chế độ thù lao nhuận bút mới, triệt tiêu dần chế độ bình quân chủ nghĩa, đồng thời tập hợp được đông đảo lực lượng cộng tác viên có tay nghề cao. Chất lượng chuyên môn từ đó cũng ngày càng được nâng lên.

Năm 1989, HTV bắt đầu thực hiện việc "xã hội hóa" bằng việc kêu gọi tài trợ cho Cuộc đua xe đạp tranh Cúp Truyền hình TP.HCM. Từ thành công đó, HTV tiếp tục kêu gọi tài trợ cho cuộc thi Tiếng hát Truyền hình năm 1991, các chương trình xây dựng nhà tình nghĩa - nhà tình thương và nhiều chương trình truyền hình khác.

Phim ảnh là nội dung được HTV rất quan tâm, như phim Cô Nhíp năm 1976 là một ví dụ. Tuy nhiên, vì thiếu kinh phí nên hoạt động này tạm ngưng. Đến năm 1991, HTV mới chính thức thành lập Hãng phim Truyền hình TFS, đưa việc sản xuất phim và phim tài liệu qua một giai đoạn mới. Ban đầu, TFS tập trung sản xuất các phim lẻ theo kiểu điện ảnh, mở màn là Giữa dòng và gặt hái một kỷ lục về giải thưởng. Sau đó, hãng bắt đầu làm các phim dài tập với sự mở màn của Người đẹp Tây Đô, tạo ra tiếng vang lớn và gắn "danh hiệu" này với nữ diễn viên Việt Trinh từ đó. Các bộ phim tiếp theo tiếp tục đưa tên tuổi TFS lên tầm cao như Xóm nước đen, Đất Phương Nam, Giã từ dĩ vãng, Đồng tiền xương máu, Ngọn nến hoàng cung, Blouse trắng...

Giai đoạn phát triển mạnh, 1994-2007[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1994 là năm HTV thể hiện sự chuyển mình mạnh mẽ nhất, từ việc đưa ra biểu trưng HTV đầu tiên đến việc tăng mạnh thời lượng phát sóng lên 18 giờ/ngày cho cả hai kênh HTV7 và HTV9. Cũng từ năm 1994, HTV bắt đầu tự chủ về tài chính, trở thành đơn vị đầu tiên trong lĩnh vực phát thanh - truyền hình xóa bỏ hoàn toàn chế độ bao cấp.

Về doanh thu, năm 1994 là năm đầu HTV có lợi nhuận gần 72 tỷ đồng. Tới năm 2004 là 600 tỷ đồng. Tổng doanh thu từ năm 1994 đến 2004 (11 năm) là trên 3.000 tỷ đồng, đóng thuế gần 1.500 tỷ đồng. Về mặt đầu tư trang thiết bị, từ 1997-2004, HTV đã chi trên 400 tỷ đồng thay thế 100% thiết bị cũ không đồng bộ, phát triển hệ thống kỹ thuật hoàn thiện ngang tầm với các nước trong khu vực, tạo ra khả năng hợp tác trên lĩnh vực sản xuất chương trình với khu vực và quốc tế.

Ngày 1 tháng 9 năm 1997, máy phát sóng FM 99.9 MHz được chuyển giao cho Đài Tiếng nói Nhân dân TP.HCM theo kế hoạch tái cấu trúc của thành phố. Nhân sự cũ của FM 99.9 MHz vẫn thuộc biên chế của đài và chuyển sang phục vụ cho truyền hình.

Năm 1999, HTV đưa vào vận hành hệ thống phát băng betacam tự động cho hai kênh HTV7, HTV9. Đó là hệ thống phát hình hiện đại nhất trên thế giới mà HTV là đơn vị duy nhất tại Việt Nam sở hữu cho đến khi truyền hình Việt Nam chấm dứt sử dụng băng Betacam. Hệ thống vận hành với một cánh tay robot được lập trình sẵn, tự động quét mã vạch trên băng hình betacam và bỏ vào khay phát đúng giờ. Việc này đã giúp các kỹ thuật viên giảm bớt áp lực sai sót, đặc biệt ở HTV7 khi kênh này có các chương trình quảng cáo dày đặc và phải chuyển băng liên tục.

Vào ngày 31 tháng 12 năm 1999, 2 kênh HTV7 và HTV9 đã phát sóng 34 tiếng đồng hồ liên tục không nghỉ (từ 14:00 ngày 31 tháng 12 năm 1999 đến 00:00 ngày 2 tháng 1 năm 2000) để chào đón năm 2000 với loạt chương trình bắn pháo hoa ở các nước trên thế giới xen kẽ với các chương trình thường ngày, lập kỷ lục về thời lượng phát sóng truyền hình ở thời điểm đó tại Việt Nam.

Năm 2000, HTV hoàn thành kế hoạch trẻ hóa nhân sự. Nhờ đó, việc sản xuất chương trình đã phát triển mạnh mẽ.

Để chứng minh sự tiên phong trong việc chuyển đổi kỹ thuật ghi hình và phát sóng từ analog sang kỹ thuật số, đầu tháng 9 năm 2003, đài phát thử nghiệm DVB-T trên kênh 30 UHF, phát kênh HTV7, HTV9 và một số kênh khác. Sau đó không lâu, ngày 1 tháng 10 năm 2003, kênh này lên sóng chính thức và HTV1, HTV2, HTV3, HTV4 cùng lúc ra đời[10]. Năm 2004, đài bắt đầu lắp đặt hệ thống server phát sóng tự động đồng bộ với Trung tâm Điều chế và Trung tâm Truyền dẫn - Phát sóng. Năm 2006, hệ thống được vận hành chính thức, thay thế cho hệ thống robot phát băng betacam sau hơn 7 năm hoạt động. Sự kiện này đánh dấu việc hoàn tất số hoá trong khâu sản xuất và lưu trữ nội dung tại HTV, chấm dứt sử dụng băng hình betacam sớm nhất trong cả nước. Cần nói thêm, hệ thống server phát sóng tự động mà HTV đầu tư là hiện đại nhất thế giới thời điểm đó. Trải qua nhiều lần nâng cấp, hệ thống này hiện vẫn đang hoạt động ổn định, đảm bảo an toàn phát sóng cho HTV.

Tòa nhà Trung tâm Truyền hình HTV tại góc đường Nguyễn Thị Minh Khai - Đinh Tiên Hoàng. Đây là thiết kế của KTS. Nguyễn Trường Lưu, đoạt Giải 1 - Giải thưởng Kiến trúc TP.HCM năm 2006, đã trở thành một trong các kiến trúc tiêu biểu của TP.HCM. Ảnh: Đinh Dũng, chụp ngày 08/08/2020

Năm 2005, lần đầu tiên từ sau 1975, HTV khởi xướng bước tiếp theo của "xã hội hóa" bằng việc hợp tác với các công ty truyền thông sản xuất chương trình. Vòng xoáy tình yêu mở màn cho Giờ vàng phim Việt theo cách đó, ngay lập tức lập kỷ lục người xem ở mức 60%. Hai năm sau, bộ phim học trò Gọi giấc mơ về lại tạo ra tỷ lệ người xem áp đảo cho HTV7 và tiếp tục "càn quét" ở các kênh truyền hình khác trong nhiều năm. Nhìn chung, Giờ vàng phim Việt tuy tạo ra nhiều tranh cãi về nội dung cũng như cách làm của HTV[11], nhưng việc mở cửa cho tư nhân hợp tác làm truyền hình đã tạo ra các sản phẩm đa dạng và chất lượng hơn, điển hình là ở Gọi giấc mơ về. Cách làm này sau đó được nhân rộng trong cả nước.

Cũng trong năm 2005, sự kiện SEA Games 23 tại Phillippines đánh dấu việc HTV là đài truyền hình Việt Nam đầu tiên thực hiện cầu truyền hình trực tiếp từ nước ngoài. Đó là chương trình Đồng hành cùng SEA Games 23 phát trực tiếp từ Philippines khoảng 15 phút mỗi ngày lúc 19:40 trên HTV9, liên tục từ 25 tháng 11 đến 5 tháng 12 năm 2005[12]. Nhờ đó, khán giả có thể biết được kết quả thi đấu của đoàn thể thao Việt Nam một cách nhanh nhất. Để làm được việc này, HTV đã thuê chỗ tại IBC, kênh vệ tinh, 2 xe và ekip 3 quay phim, 3 biên tập viên, 2 kỹ thuật dựng và 2 kỹ thuật viên phát sóng tác nghiệp ngay tại nước chủ nhà.[13]

Bên cạnh việc tổ chức truyền hình trực tiếp và đưa tin với các sự kiện thể thao lớn của thế giới, HTV cũng ghi dấu ấn mạnh khi lần đầu tiên tổ chức thành công cuộc thi Chinh phục đỉnh Everest. Ngày 22 tháng 5 năm 2008, 3 vận động viên người Việt đầu tiên đã chinh phục nóc nhà thế giới[14].

Về ảnh hưởng, trong giai đoạn này HTV là một đài truyền hình rất mạnh, hoàn toàn không có đối thủ. Ngay cả VTV cũng chỉ là người đứng ngoài cuộc chơi và "không có cửa" để cạnh tranh với HTV về các mảng thể thao, giải trí. HTV mạnh đến mức, có thời điểm VTV mua bản quyền World Cup mà phải “năn nỉ” HTV tiếp sóng hoặc cùng khai thác để có chỉ số rating cao nhằm thu hút quảng cáo[15].

Ngày 27 tháng 4 năm 2006, sau năm năm xây dựng, HTV khánh thành Tòa nhà Trung tâm Truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh. Đây là Tòa nhà Trung tâm Truyền hình lớn nhất Việt Nam tính tới năm 2017 và đứng đầu cho tới nay nếu xét đến yếu tố tự chủ tài chính của một đài truyền hình. Tòa nhà được đầu tư hoàn toàn từ nguồn vốn của đài, cao 16 tầng với tổng diện tích sàn 19.462 m2, có 11 trường quay gồm 162 tỉ đồng cho xây dựng và 400 tỉ đồng cho trang thiết bị[16].

Về lĩnh vực truyền hình trả tiền, năm 2003, HTV thành lập Trung tâm Truyền hình Cáp HTVC. Sau một năm hoạt động, HTVC đã có 700.000 thuê bao tại TP.HCM, trở thành đơn vị truyền hình trả tiền lớn thứ hai tại Việt Nam ở thời điểm đó.

Người có vai trò rất lớn đối với sự phát triển của HTV trong giai đoạn này là ông Phạm Khắc, Tổng Giám đốc đài từ 1996-2003. Người kế nhiệm Huỳnh Văn Nam tiếp tục giữ vững vị trí không-đối-thủ của HTV bằng sự phát triển vượt bậc về công nghệ bên cạnh việc sản xuất nội dung.

Giai đoạn khủng hoảng, 2008-2015[sửa | sửa mã nguồn]

Vị trí thống trị truyền hình Việt Nam của HTV bắt đầu bị lung lay từ đầu tháng 6 năm 2008, khi UBND TP.HCM gửi công văn yêu cầu HTV hoãn tổ chức Vietnam Idol mùa 2[17]. Đây là điều lạ khi Vietnam Idol mùa 1 có lượng khán giả cao kỷ lục và không có vấn đề về nội dung. Cuộc thi sau đó không được tiếp tục phát sóng trên HTV mà chuyển qua VTV từ mùa 3 (2010), với một loạt xì-căng-đan lấn át chất lượng tranh tài[18].

Trong giai đoạn này, Ban lãnh đạo TP.HCM đã "cơ cấu" lại HTV bằng việc chuyển công tác hoặc sa thải các vị trí chủ chốt của đài, dẫn đến hệ lụy nhiều nhân viên HTV nghỉ việc và lập các công ty truyền thông riêng hoặc làm việc cho các đơn vị truyền thông khác. Các đơn vị truyền thông tư nhân này sau đó hợp tác với VTVTHVL. Cùng lúc đó, các đơn vị đang hợp tác với HTV cũng chuyển hướng: nơi thì mở kênh truyền hình riêng, nơi thì quay sang hợp tác với VTV bằng những chương trình truyền hình thực tế nổi tiếng thế giới và giật gân... Tiếp đến, tần số phát sóng và nội dung các kênh xã hội hóa của HTV bị thanh tra: Máy tiếp sóng HTV7 và HTV9 đặt tại nhiều tỉnh thành đã bị dừng hoạt động; các kênh HTV2, HTV3, HTV4 bị buộc ngừng sóng analog tại TP.HCM; dừng phát sóng nhiều chương trình giải trí trên HTV3 vì không đúng tiêu chí kênh[19][20]; chuyển đổi HTV2 về với chức năng kênh Thể thao trong hơn một năm để bổ sung giấy phép[21]...

Đến tháng 7 năm 2009, Truyền hình cáp HTVC bị xử lý vì phát "lậu" 34 kênh truyền hình[22]. Báo chí khi đó đưa tin đều để chữ "lậu" trong ngoặc kép vì thực tế, đây không phải là phát lậu như cách hiểu thông thường.

Tháp ăng-ten mới cao 254m, khánh thành ngày 18/01/2010 thay cho tháp ang-ten cũ có từ thời VNCH. Đây là tháp truyền hình cao nhất Việt Nam tính đến nay. Ảnh: Đinh Dũng

Dưới sức ép của các cơ quan quản lý từ năm 2008-2010 và tiếp tục bị quản lý chặt các năm sau đó, HTV dường như chỉ hoạt động cầm chừng. Tất cả các chương trình đều phải thực hiện theo đúng "đường lối, chủ trương"; Hãng phim TFS gần như mất hút sau khoảng thời gian đỉnh cao; các giải bóng đá lớn thưa dần...

Từ phía khán giả, sự khủng hoảng của HTV được cảm nhận rất rõ bằng cái "nhạt" ở tất cả chương trình, nhất là mảng giải trí, ngoại trừ một số ít chương trình phát sóng cuối tuần trên HTV7 như Người bí ẩn hay Thử thách cùng bước nhảy. Từ vị trí của một Đài truyền hình đứng đầu Việt Nam, HTV đã rớt hạng trên bảng tổng sắp rating ngay tại thị trường chủ lực là TP.HCM & Đông Nam Bộ. Nhưng trong cơn khủng hoảng đó, có một thực tế đáng ghi nhận ở HTV là đài vẫn không câu khách bằng xì-căng-đan[23].

Tuy gặp nhiều khó khăn nhưng HTV vẫn thể hiện vị trí tiên phong của mình trong nhiều hoạt động. Một loạt cầu truyền hình quy mô lớn không có quảng cáo được thực hiện trong năm 2009 tại các đảo Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo & Phú Quốc. Đỉnh điểm là cầu truyền hình ngày 17 tháng 10 năm 2009 kết nối từ Nhà hát Truyền hình HTV với đảo Trường Sa Lớn giữa lúc xã hội đang sục sôi vì các diễn biến ngoài Biển Đông. Tiếp nối thành công này, ngày 29 tháng 6 năm 2013, cầu truyền hình với đảo Song Tử Tây được thực hiện[24]. Đó là những lần khán giả được xem trực tiếp hình ảnh từ Trường Sa, điều chưa có đài truyền hình nào khác làm được. Ngoài chủ đề biển - đảo, các chương trình cầu truyền hình về biên giới trên đất liền cũng được thực hiện hoành tráng, điển hình là Âm vang biên giới giữa Lai Châu, Kon Tum, An Giang và TP.HCM vào ngày 14 tháng 12 năm 2013... Đặc biệt, vào ngày 5 tháng 6 năm 2011, HTV đã phối hợp với VTV và các Đài Phát thanh - Truyền hình Hà Nội, Cao Bằng, Nghệ An, Đồng Tháp tổ chức cầu truyền hình "Hồ Chí Minh - Cuộc hành trình của thời đại" kỷ niệm 100 năm ngày Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước... Ở mảng tin tức, đầu tháng 1 năm 2012, 60 giây tối chính thức lên sóng, tập trung vào những sự kiện xã hội. Với điểm nổi bật là sự trình bày nhanh, gọn, trẻ trung, hoàn toàn khác với kiểu "truyền thống" của Thời sự, ngay lập tức 60 giây đã tạo nên sức hút. Và chỉ sau đó không lâu, 60 giây tối đã thống trị rating mảng tin tức, kéo theo nhiều thay đổi tương tự ở các đài khác. Về kỹ thuật, sau khi vệ tinh Vinasat 1 được phóng thành công năm 2008, HTV là đơn vị đầu tiên ký hợp đồng thuê kênh và phát sóng quảng bá các kênh của mình và nhiều kênh truyền hình địa phương khác.

Giai đoạn khủng hoảng của HTV khép lại sau khi TP.HCMBí thư Thành ủy mới.

Giai đoạn hồi phục, 2016-nay[sửa | sửa mã nguồn]

Ngay sau khi TP.HCM thay đổi người đứng đầu, HTV cũng có Tổng Giám đốc mới từ tháng 4 năm 2016 là ông Dương Thanh Tùng[25]. Sau đó, tháng 12 năm 2016, ông Thái Thành Chung - Trưởng ban Chương trình và bà Diệp Bửu Chi - Trưởng ban Ca nhạc, được bổ nhiệm làm Phó Tổng Giám đốc HTV[26]. Từ đó, nhiều đổi mới về kết cấu và nội dung chương trình đã bắt đầu trên các kênh HTV. Hàng loạt gameshow và chương trình ăn khách xuất hiện, kéo khán giả quay trở lại với HTV. Phần lớn các chương trình tập trung vào đối tượng khán giả trẻ, cách dẫn năng động và tươi mới, khác hẳn phong cách các thế hệ HTV trước đây.

Cùng với sự thay đổi quan trọng trên, việc triển khai số hóa truyền hình tại khu vực Nam Bộ bắt đầu chuyển sang giai đoạn nước rút. Thông qua SDTV, công ty con của HTV có chức năng phát sóng DVB-T2, vùng phủ sóng mặt đất của HTV đã mở rộng ra toàn khu vực Nam Bộ và được khán giả miền Tây đón nhận nồng nhiệt.

Năm 2018 là dấu mốc quan trọng đối với HTV trong việc phục hồi thị phần và lấy lại vị trí dẫn đầu ở miền Nam. Đặc biệt, mảng thể thao được đầu tư nhiều hơn sau thời gian dài trì trệ. Lần đầu tiên sau nhiều năm vắng bóng các giải thể thao lớn, nhất là bóng đá, HTV đã mua bản quyền World Cup 2018[27][28][29][30].

Xe màu và xe phát vệ tinh phục vụ Cúp Truyền hình 2019. Ảnh: HTV.

Về kỹ thuật truyền hình, ngày 3 tháng 4 năm 2018 đã đi vào lịch sử ngành truyền hình Việt Nam khi HTV lần đầu tiên trực tiếp toàn chặng không gián đoạn cho chặng đua Thanh Hóa – Nghệ An ở cúp xe đạp truyền thống của mình. Sự tiến bộ về kỹ thuật trực tiếp và cách thức tổ chức đã tạo rất nhiều bất ngờ cho khán giả, từ đó kéo theo lượng lớn người yêu xe đạp đồng hành cùng đoàn đua qua sóng truyền hình cũng như mạng xã hội. Với sức lan tỏa mạnh ngoài dự kiến, HTV đã trực tiếp hầu hết các chặng đua còn lại thay vì chỉ 21/30 chặng như kế hoạch ban đầu. Đỉnh điểm là chặng Huế – Đà Nẵng (qua đèo Hải Vân trong mưa lớn) và chặng Nha Trang – Đà Lạt (qua đèo Ngoạn Mục với địa hình đồi núi phức tạp), tín hiệu trực tiếp vẫn rất ổn định, mở ra giai đoạn mới của truyền hình thể thao tại Việt Nam.

Năm 2019, HTV lần đầu tiên tổ chức truyền hình trực tiếp tất cả các chặng đua của Cúp Truyền hình[31]. Với số lượng camera được tăng cường nhiều hơn (tổng cộng khoảng gần 20 máy) và kỹ thuật truyền dẫn tiếp tục cải tiến, khán giả yêu xe đạp đã được theo sát các diễn biến trên đường đua. Nhờ đó, HTV tiếp tục nâng cao vị thế của cuộc đua này[32].

Những dấu mốc quan trọng[sửa | sửa mã nguồn]

Chú ý: Những nội dung được in đậm là các hoạt động tiên phong tại Việt Nam.

  • 22/01/1966: THVN9 phát sóng thử nghiệm bằng máy bay trực thăng.
  • 07/02/1966: THVN9 phát sóng chính thức, khai sinh truyền hình tại Việt Nam.
  • 25/10/1966: Xây dựng tháp truyền hình đầu tiên của Việt Nam.
  • 22/03/1973: Đài AFVN chấm dứt hoạt động tại VNCH, chuyển giao cơ sở vật chất cho THVN9.
  • 29/04/1975: THVN9 phát sóng buổi cuối cùng, trước ngày Sài Gòn sụp đổ.
  • 01/05/1975: Đổi tên thành Đài Truyền hình SGGP, Kênh 9 lên sóng trở lại sau một ngày dừng sóng.
  • 03/10/1975: Hãng Truyền hình Đắc Lộ chính thức sáp nhập vào Truyền hình SGGP.
  • 02/07/1976: Đổi tên thành Đài Truyền hình TP.HCM, là đài khu vực Nam Bộ thuộc Ủy ban PT-TH Việt Nam.
  • 1981: Được chuyển giao về UBND TP.HCM, hạ cấp thành đài truyền hình địa phương.
  • 1986: Phát sóng trở lại FM 99.9 MHz - kênh FM duy nhất tại Việt Nam hoạt động sau 1975 trong nhiều năm.
  • 1986: Kênh 7 lên sóng, HTV trở thành đài đầu tiên của Việt Nam phát sóng cùng lúc 2 kênh riêng biệt.
  • 23/08/1987: Cháy toàn bộ trung tâm truyền hình, chỉ còn lại đài phát sóng và bộ phận tư liệu.
  • 24/08/1987: Chấm dứt hệ đen trắng, chuyển qua phát hình màu lần đầu tiên tại Việt Nam.
  • 01/01/1990: Nâng thời lượng phát sóng cho cả hai Kênh 7 và 9 lên 12 giờ/ngày.
  • 18/10/1991: Thành lập TFS, hãng phim trực thuộc đài truyền hình đầu tiên của Việt Nam.
  • 08/1994: Đưa ra biểu trưng chính thức: HTV. Kênh 7 & Kênh 9 lần lượt có logo là HTV7 và HTV9.
  • 01/09/1997: Chuyển giao FM 99.9 MHz cho Đài Tiếng nói Nhân dân TP.HCM.
  • 03/1998: Thành lập Tạp chí HTV.
  • 01/1999: Vận hành hệ thống phát sóng tự động bằng robot cho 2 kênh HTV7, HTV9.
  • 31/12/1999: HTV9 thực hiện buổi phát sóng dài 34 tiếng để chào đón Thiên niên kỷ mới.
  • 01/07/2003: Thành lập Trung tâm Truyền hình cáp HTVC.
  • 01/10/2003: Phát sóng số mặt đất (DVB-T, Kênh 25) gồm HTV7, HTV9 và ra mắt HTV1, HTV2, HTV3, HTV4.
  • 2004: HTV7, HTV9 được phủ sóng ra các tỉnh phía Bắc do VTC truyền dẫn trên DVB-T.
  • 2004: Số hóa toàn bộ khâu sản xuất chương trình.
  • 08/02/2005: Thực hiện cầu truyền hình đón giao thừa với Đài truyền hình quốc gia Lào.
  • 01/06/2005: HTV7 và HTV9 phát sóng 23/24h.
  • 25/11/2005: Thực hiện chương trình trực tiếp đầu tiên của VN từ nước ngoài.
  • 2005: Phát sóng quảng bá HTV7, HTV9 từ vệ tinh Thaicom, Measat chuẩn DVB-S.
  • 27/04/2006: Khánh thành tòa nhà Trung tâm Truyền hình HTV và vận hành hệ thống server phát sóng tự động.
  • 06/08/2008: HTVC ra mắt dịch vụ HDTV và FBNC - kênh truyền hình HD đầu tiên tại Việt Nam.
  • 19/06/2008: Phát sóng các kênh HTV, HTVC từ Vinasat 1, band C và KU, chuẩn DVB-S.
  • 29/04/2009: Áp dụng chuẩn phát sóng DVB-S2 cho các kênh trên vệ tinh Vinasat 1, band C và KU.
  • 07/05/2009: Ngừng sóng analog các kênh HTV1, HTV3, HTV4.
  • 18/01/2010: Khánh thành tháp ăng-ten mới cao 254m, cao nhất Việt Nam tính đến nay.
  • 31/12/2011: Ngừng sóng Kênh 25 (DVB-T) và Kênh 30 (HTV2 analog).
  • 15/05/2012: Chuyển các kênh band KU từ vệ tinh Vinasat 1 sang vệ tinh Vinasat 2.
  • 19/05/2013: HTV7, HTV9 phát sóng HD, đầu tiên trong các kênh quảng bá Việt Nam.
  • 10/2013: Hoàn tất quy trình làm việc trên nền tảng file số.
  • 10/10/2014: Thành lập Công ty SDTV, có nhiệm vụ phát sóng DVB-T2.
  • 18/11/2014: SDTV phát sóng thử nghiệm DVB-T2, kênh 33.
  • 19/12/2014: SDTV phát sóng chính thức DVB-T2, kênh 33.
  • 15/04/2015: Phim trường HTV Hòa Phú chính thức hoạt động.
  • 01/12/2015: SDTV thiết lập thành công mạng đơn tần (SFN) DVB-T2 cho kênh 33.
  • 15/08/2016: Ngừng sóng analog Kênh 7 & 9 VHF theo lộ trình số hóa của Chính phủ.
  • 01/10/2016: Bắt đầu nâng cấp chất lượng các chương trình trên HTV7 và HTV9.
  • 01/03/2018: Thử nghiệm phát sóng truyền hình hệ T-DMB tại TP.HCM.
  • 03/04/2018: Trực tiếp toàn chặng đua xe đạp đường trường lần đầu tiên tại Việt Nam.
  • 30/01/2019: Phát sóng HD cho 2 kênh HTV7, HTV9 trên vệ tinh Vinasat 2, band KU.
  • 10/02/2020: Thời sự 20:00 của HTV9 được phát trực tiếp trên kênh Youtube HTV Tin tức.

Những chương trình nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

  • Cuộc thi Hoa hậu truyền hình 1967: THVN9 tổ chức cuộc thi đầu tiên của Việt Nam & Đông Nam Á.
  • Táo quân (1982-2019): Chương trình hài kịch phát sóng trong đêm cuối năm âm lịch và kết thúc đúng vào thời khắc giao thừa, với nhân vật chính là Táo quân - người tổng hợp những sự việc chính xảy ra trong năm. Táo quân ra mắt lần đầu tiên tại Việt Nam trên HTV9 vào đêm giao thừa Nhâm Tuất, 24/01/1982 và trở thành chương trình được mong đợi nhất vào đêm giao thừa trong hai thập niên 1980-1990.
  • Cuộc đua xe đạp toàn quốc tranh Cúp truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh (1989-nay): Cuộc đua xe đạp đầu tiên của một đài truyền hình tại Việt Nam tổ chức, với mục đích đẩy mạnh phong trào xã hội hóa thể thao và kỷ niệm ngày thống nhất đất nước. Ra mắt lần đầu vào tháng 4 năm 1989 với lộ trình rất ngắn (TP.HCM - Đà Lạt và quay ngược lại), nhưng chỉ sau đó 2 năm, Cúp Truyền hình đã được Tổng cục Thể dục Thể thao Việt Nam công nhận nằm trong hệ thống thi đấu quốc gia. Từ lần đua thứ năm (1993), Cúp Truyền hình lần đầu tiên có lộ trình xuyên Việt. Cho đến nay, Cúp Truyền hình đã trở thành một sự kiện quan trọng được mong đợi mỗi tháng Tư về, đặc biệt đối với khán giả Nam Bộ, nơi bộ môn xe đạp thể thao phát triển rất mạnh.
  • Tiếng hát Truyền hình (1991-2015): Cuộc thi ca hát đầu tiên trên truyền hình Việt Nam được tổ chức mỗi năm 1 lần. Các giọng ca đoạt giải từ cuộc thi này, đặc biệt là ở 15 năm đầu, đều trở thánh những ca sĩ nổi tiếng sau cuộc thi. Những gương mặt điển hình xuất phát từ cuộc thị này có Như Quỳnh, Mai Thiên Vân (hiện đang sống ở Mỹ), Đàm Vĩnh Hưng...
  • Nhịp cầu âm nhạc (1999-2016): Chương trình ca nhạc theo yêu cầu phát trực tiếp đầu tiên tại Việt Nam. Chương trình có 1 số điện thoại với 6 lines để tiếp nhận yêu cầu trực tiếp từ khán giả, lên sóng mỗi tháng 1 lần trên kênh HTV7.
  • Vầng trăng cổ nhạc (từ 2001): Chương trình ca cổ & trích đoạn cải lương lên sóng mỗi tháng 1 lần.
  • Chuông vàng Vọng cổ (từ 2006): Cuộc thi tuyển chọn những nhân tố mới, đóng góp cho sự phát triển của nghệ thuật cải lương.
  • Ngân mãi chuông vàng
  • Vượt lên chính mình (2005-2018).
  • Chinh phục đỉnh Everest (2007-2008): Các vận động viên phải chinh phục 4 đỉnh núi là Phanxipăng (VN), Kinabalu (Malaysia), Kilimanjaro (châu Phi), Island Peak (Nepal)[33]. Ngày 22 tháng 5 năm 2008, 3 nhà leo núi đầu tiên của Việt Nam là Bùi Văn Ngợi (25 tuổi), Phan Thanh Nhiên (23 tuổi) và Nguyễn Mậu Linh (31 tuổi) đã ghi tên vào danh sách những người chinh phục được "Nóc nhà thế giới" - đỉnh Everest (cao 8.850 m, thuộc Nepal).
  • Ngôi nhà mơ ước: Chương trình xây nhà cho các gia đình có hoàn cảnh khó khăn trên khắp cả nước.
  • Thay lời muốn nói (từ 2000).
  • Thử thách cùng bước nhảy (2012-2016): Chương trình thi tài về nhảy múa, dựa theo format So you think you can dance của Mỹ, do HTV & Đông Tây Promotion thực hiện.
  • 60 giây (từ 2012): Chương trình tin tức tổng hợp, an ninh trật tự, xã hội, văn hóa trong nước & quốc tế... phát sóng trực tiếp trong 2 khung giờ 06:30-07:00 và 18:30-19:00 trên HTV7 và HTV9 mỗi ngày, do Trung tâm tin tức HTV phối hợp cùng ADT Group Holdings, Báo Tuổi Trẻ và DQ Media thực hiện.
  • Tiếng hát mãi xanh
  • Thần tượng Âm nhạc - Vietnam Idol (Mùa 1 & 2)
  • Tiếng hát măng non truyền hình
  • Tiếng ca học đường
  • Người dẫn chương trình truyền hình - Én vàng (từ 2004)
  • Giải thưởng truyền hình HTV (đến 2016): Giải thưởng thường niên được trao cho các nghệ sĩ, cá nhân, diễn viên... đã có công đóng góp cho HTV trong suốt một năm.
  • Người bí ẩn (từ 2014): Chương trình tìm kiếm những tài năng, những chuyện lạ, biệt tài lạ thường... ẩn giấu qua các vòng thi với sự phán đoán của các nghệ sĩ, do HTV & Đông Tây Promotion thực hiện.
  • Chạy đi chờ chi: Chương trình truyền hình thực tế về vận động ăn khách và thành công ở 1 số quốc gia, do HTV & Madison Group thực hiện.
  • Nhanh như chớp
  • Siêu trí tuệ Việt Nam: Chương trình tìm kiếm những tài năng, biệt tài... liên quan đến trí óc, phán đoán, mua bản quyền từ Trung Quốc, do HTV & Vie Channel thuộc DatvietVAC thực hiện.

Sự cố truyền thông và nội dung gây tranh cãi[sửa | sửa mã nguồn]

MC chúc "Quốc tang thật nhiều niềm vui"[sửa | sửa mã nguồn]

Trong chương trình An toàn giao thông TP được phát sóng trực tiếp ngày 12/10/2013 trên HTV1, sau khi cung cấp thông tin về tình hình giao thông trong ngày quốc tang Đại tướng Võ Nguyên Giáp, MC Lê Minh Ngọc đã lỡ lời: “Hôm nay là ngày Quốc tang của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, chắc chắn nhu cầu của quý vị chúng ta đến viếng Đại tướng sẽ có rất nhiều. Vì vậy, chúng ta cũng nên nhớ chấp hành đúng luật lệ giao thông cũng như sự điều khiển của lực lượng cảnh sát chức năng để chúng ta có một ngày Quốc tang thật nhiều niềm vui và an toàn”. Câu nói trên đã khiến dư luận bức xúc và thất vọng. Một ngày sau đó, ông Lê Quang Trung - Phó Bí thư Đảng Ủy HTV, Trưởng ban điều hành kênh HTV1 đã lên xin lỗi khán giả cả nước[34].

“Dạy” ăn thịt chó[sửa | sửa mã nguồn]

Trong tập 16 chương trình Việt Nam đất nước tôi yêu phát sóng vào tối 30/01/2018 trên HTV3, hai thanh niên Việt Nam tận tình hướng dẫn người Hàn Quốc “ăn thịt chó đúng cách"[35] trong lúc xã hội đang có tranh luận cần xóa bỏ việc ăn thịt chó. Trước phản ứng quyết liệt này, đại diện kênh HTV3 lên tiếng xin lỗi và khẳng định Đài sẽ kiểm duyệt nội dung các chương trình kỹ lưỡng hơn[36].

Danh sách kênh[sửa | sửa mã nguồn]

STT Tên kênh Thành lập Nội dung
1 HTV1 1 tháng 10, 2003 (2003-10-01) Kênh thông tin, xã hộicông cộng
2 HTV2 - Vie Channel 1 tháng 10, 2003 (2003-10-01) Kênh giải trí tổng hợp, dưới sự hợp tác của HTV & Công ty cổ phần Vie Channel thuộc Tổ hợp truyền thông và giải trí Đất Việt VAC. Trước 2010 là kênh thể thao tổng hợp
3 HTV3 - DreamsTV 1 tháng 10, 2003 (2003-10-01) Kênh dành cho thanh thiếu niênnhi đồng dưới sự hợp tác của HTV & Purpose Media.[37]
4 HTV Key 1 tháng 10, 2003 (2003-10-01) Kênh khoa học - khoa giáo, phổ biến kiến thức tổng hợp. Trước đây là HTV4
5 HTV7 1986 (thử nghiệm)
1987 (chính thức)
Kênh thông tin, xã hội thể thaogiải trí tổng hợp
6 HTV9 22 tháng 1, 1966 (1966-01-22) Kênh tin tức, xã hội thể thaogiải trí tổng hợp
7 HTV Thể thao 19 tháng 5, 2013 (2013-05-19) Kênh chuyên biệt các chương trình thể thao

Các dịch vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Truyền hình cáp[sửa | sửa mã nguồn]

HTV có dịch vụ truyền hình cáp riêng với thương hiệu là HTVC. Đặc biệt, HTV đã phối hợp với VNPT để cung cấp các kênh truyền hình HTV và gói dịch vụ của HTVC trên đường cáp quang của VNPT (HTV-Fiber VNN). Ngoài ra, HTV cũng mở rộng mạng lưới cung cấp dịch vụ truyền hình của mình thông qua tất cả các dịch vụ truyền hình trả tiền khác trên toàn quốc.

Truyền hình số mặt đất[sửa | sửa mã nguồn]

Công ty con của HTV là SDTV có chức năng phát sóng truyền hình kỹ thuật số mặt đất theo chuẩn DVB-T2 cho toàn khu vực miền Nam Việt Nam từ Đà Nẵng trở vào (trừ 2 tỉnh Gia Lai & Kon Tum). Năm 2017 đánh dấu việc SDTV đã hoàn tất phủ sóng truyền hình số cho 20 tỉnh khu vực Nam Bộ, đi trước một năm so với lộ trình do chính phủ đề ra[38]. Hiện nay, trên 90% dân số khu vực Nam Bộ đã có thể thu sóng của SDTV dễ dàng.

Năm 2018, SDTV tiếp tục mở rộng mạng phát sóng DVB-T2 ra khu vực Nam Trung Bộ & Tây Nguyên (trừ hai tỉnh Gia Lai & Kon Tum). Đến tháng 3 năm 2019, SDTV hoàn tất phủ sóng tại nhiều tỉnh, thành khu vực này.

Quảng cáo và phát hành chương trình truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

HTV là đài truyền hình đầu tiên trong cả nước phát sóng quảng cáo sau 1975. Việc quản lý các chương trình quảng cáo được đảm nhiệm bởi Trung tâm Dịch vụ Truyền hình (HTVS). Bên cạnh chức năng chính là làm quảng cáo, HTVS còn là đơn vị chịu trách nhiệm phát hành các chương trình truyền hình, bán bản quyền truyền hình… góp phần nâng cao vị thế và tầm ảnh hưởng trong các lĩnh vực hoạt động của HTV.

Truyền hình vệ tinh[sửa | sửa mã nguồn]

Từ những năm 2000, HTV đã bắt đầu đưa các chương trình của mình lên vệ tinh Measat-2 và chính thức trở thành nhà phát sóng vệ tinh cho các kênh địa phương khác khi Vinasat 1 lên quỹ đạo. Thực tế, HTV gần như không quảng bá việc mình phát sóng qua vệ tinh mà chỉ làm rất âm thầm. Người xem tự dùng chảo parabol thu sóng từ vệ tinh Vinasat 1, Vinasat 2 và tự thông báo trên các diễn đàn. HTV chưa từng công bố chính thức về các tần số phát sóng vệ tinh của các kênh HTV, HTVC và các kênh địa phương do HTV làm dịch vụ phát sóng.

Tình đến thời điểm tháng 3 năm 2019, HTV đã sử dụng Vinasat 1, band C để phát 2 kênh HTV7, HTV9 và Vinasat 2, band KU cho nhóm kênh HTV, HTVC và nhiều kênh truyền hình địa phương khác.

Truyền hình Internet, OTT[sửa | sửa mã nguồn]

HTV đã triển khai hai dịch vụ OTT là HTV OnlineHTVC hoạt động trên iOS, Android, các smart TV, smart box… HTV TMS cũng đã hợp tác với công ty VNPT Technology để ra mắt gói dịch vụ HTVC tvod, với smartbox hoạt động trên mạng Internet… Bộ phận nội dung số của Đài tiếp tục triển khai việc cung cấp nội dung chương trình HTV trên Youtube và cho một số đơn vị kinh doanh nội dung số như: VieON, FPT Play, ZingTV, Viettel, HD Việt. Trong thời gian tới, Đài sẽ tiếp tục đẩy mạnh hình thức kết hợp phân phối nội dung trên online và sóng truyền hình, tiến đến việc sản xuất nội dung phù hợp nhiều nền tảng, nhiều đối tượng cho nhiều môi trường phân phối.

Phát hành chương trình trên Youtube, Facebook[sửa | sửa mã nguồn]

HTV hiện là đối tác truyền thông của Facebook và Youtube. HTV quản lý và khai thác các fanpage cũng như nhiều kênh Youtube chính thức: HTV Entertainment, HTV Life, HTV Music, HTV Sports, HTV Films, HTV Tin tức, 60 giây, HTVC Phim, HTVC Teen, HPlus... Khán giả có thể xem lại nhiều (không phải tất cả) chương trình ngay sau khi phát sóng trên truyền hình. Việc quản lýkinh doanh nội dung các chương trình của HTV trên Youtube được phụ trách bởi công ty HTV-TMS và Trung tâm Dịch vụ Truyền hình (HTVS).

Hoạt động thương mại[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tâm Dịch vụ Truyền hình[sửa | sửa mã nguồn]

Là Đài đầu tiên thành lập đơn vị trực thuộc phụ trách tất cả các dịch vụ tạo nguồn thu từ sau năm 1975, HTV đã chứng minh sự năng động trong hoạt động kinh doanh bên cạnh nhiệm vụ “truyền thống” là sản xuất chương trình và phát sóng. Trung tâm Dịch vụ Truyền hình là nơi tiếp nhận quảng cáo, phát hành đĩa, in sang các chương trình; Thiết kế, lắp đặt, cho thuê các thiết bị truyền hình, phim trường, phòng thu; Phối hợp thực hiện tài trợ, cung cấp bản quyền.

Với sự thành công của đơn vị tiên phong, “Trung tâm Dịch vụ Truyền hình” hiện nay gần như đã thành tên gọi mặc định của đơn vị tiếp nhận quảng cáo của tất cả các đài Phát thanh - Truyền hình trên cả nước.

Trung tâm Truyền dẫn - Phát sóng[sửa | sửa mã nguồn]

Trung tâm Truyền dẫn - Phát sóng có tên tiếng Anh là Transmission and Broadcast Center, là đơn vị trực thuộc HTV được hình thành từ khi thành lập Đài. Với tên gọi cũ là Đài phát sóng, đến năm 2005 sau khi sát nhập với Phòng Phát hình được đổi tên thành Trung tâm Truyền dẫn - Phát sóng. Đến năm 2008, sau khi tách bộ phận Phát hình ra khỏi Trung tâm thì tên gọi vẫn được giữ nguyên cho đến nay.

Trung tâm hiện nay có 2 đơn vị trực thuộc là Phòng Sửa chữa và Phòng Đài phát. Ban phụ trách đơn vị gồm Giám đốc và Phó giám đốc Trung tâm.

Nhiệm vụ chính của Trung tâm là quản lý, khai thác , bảo trì, sửa chữa hệ thống thiết bị phát sóng mặt đất, hệ thống truyền dẫn tín hiệu qua vệ tinh của Đài. Bên cạnh đó, Trung tâm còn quản lý, vận hành khai thác các thiết bị truyền dẫn khác như: cáp quang, Viba, Truyền hình số mặt đất...

Trung Tâm còn làm dịch vụ truyền dẫn tín hiệu các chương trình trực tiếp của các Đài truyền hình địa phương trên cả nước. Đồng thời, tiếp tục thực hiện nhiều chương trình thể thao trực tiếp ra nước ngoài, được phát sóng trên các kênh: FOX News, StarSports, ESPN, CNN...

Hãng phim truyền hình TFS[sửa | sửa mã nguồn]

Hãng phim Truyền hình TP.HCM chuyên sản xuất phim truyện, phim tài liệu, ký sự, tạp chí văn nghệ, các loại chương trình giải trí tổng hợp…

Công ty Dịch vụ Kỹ thuật - Truyền thông HTV[sửa | sửa mã nguồn]

Là công ty con của HTV, hoạt động chủ yếu trong lĩnh vực: Thiết lập mạng và cung cấp dịch vụ viễn thông; Kinh doanh dịch vụ truyền hình trả tiền; Tổ chức sản xuất và phát hành các chương trình truyền hình… góp phần nâng cao vị thế và tầm ảnh hưởng trong các lĩnh vực hoạt động của HTV.

[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Cái ti vi Denon và truyền hình nửa thế kỷ trước”. báo Thanh niên. Truy cập ngày 26 tháng 11 năm 2018. 
  2. ^ “Tiếp quản Đài truyền hình Sài Gòn”. báo Quân đội Nhân dân. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2018. 
  3. ^ “Tiếp quản Ðài Truyền hình Sài Gòn trong giờ phút lịch sử”. báo Nhân dân. Truy cập ngày 24 tháng 11 năm 2018. 
  4. ^ Buổi phát hình đầu tiên của Đài Truyền hình Giải phóng (_) _ Mai Vàng _ Báo Người Lao Động Online
  5. ^ “Đây là Đài Truyền hình Sài Gòn giải phóng...” _ Văn hóa _ Thanh Niên
  6. ^ _Đây là Đài truyền hình Sài Gòn giải phóng!_... - Tuổi Trẻ Online
  7. ^ “Thi hoa hậu trên Đài truyền hình Sài Gòn”. 
  8. ^ “Ký ức về buổi phát sóng đầu tiên của HTV sau thống nhất”. 
  9. ^ “Đài truyền hình TP.HCM (HTV): 40 năm và những dấu ấn”. 
  10. ^ “HTV phát sóng DVB-T”. 
  11. ^ “Ông Huỳnh Văn Nam - Giám đốc Đài Truyền hình TP.HCM: "HTV không hề bán sóng". 
  12. ^ “HTV và SEA Games 23”. 
  13. ^ “HTV đồng hành cùng SEA Games 23”. 
  14. ^ “3 người Việt Nam đầu tiên chinh phục đỉnh Everest”. 
  15. ^ “Bản quyền truyền hình World Cup: Tại HTV…”. 
  16. ^ “Đài truyền hình TP.HCM: khánh thành tòa nhà trung tâm”. 
  17. ^ “Vietnam Idol lần 2 tạm ngưng tổ chức”. 
  18. ^ “Vietnam Idol không thích ứng”. 
  19. ^ “HTV3 ngưng phát sóng một số chương trình từ 8-8”. 
  20. ^ “Khi một kênh truyền hình bị tạm ngừng phát sóng”. 
  21. ^ “HTV2 ngừng phát sóng phim truyện”. 
  22. ^ “Truyền hình cáp HTVC bị xử lý vì phát 'lậu' 34 kênh”. 
  23. ^ “Truyền hình giải trí và giá phải trả: Cạnh tranh thiếu định hướng”. 
  24. ^ “Đảo xa thật gần”. 
  25. ^ “Đài Truyền hình TP.HCM có Tổng Giám đốc mới”. 
  26. ^ “TP.HCM bổ nhiệm nhiều nhân sự mới”. 
  27. ^ “Bản quyền truyền hình World Cup: Xin đừng gọi là phục vụ”. 
  28. ^ “Bản quyền truyền hình World Cup: Rối vì "anh cả" đóng... cả hai vai”. 
  29. ^ “Bản quyền World Cup 2018: VTV than khó, đã có HTV”. 
  30. ^ “Bộ trưởng Nguyễn Bắc Son: Độc quyền Ngoại hạng Anh gây bức xúc cho cả xã hội”. 
  31. ^ “Những câu chuyện phía sau đường đua”. 
  32. ^ “Cúp Truyền hình HTV và bước đột phá công nghệ”. 
  33. ^ trước thử thách cuối cùng là nóc nhà thế giới Everest
  34. ^ “MC lỡ lời "chúc Quốc tang vui vẻ": Chỉ mong mọi người tha thứ”. Giáo dục Việt Nam. 14 tháng 10 năm 2013. 
  35. ^ “Phẫn nộ với chương trình dạy ăn thịt chó phát sóng trên truyền hình”. VTC News. 
  36. ^ “Chương trình dạy ăn thịt chó phát sóng trên truyền hình khiến dân mạng phẫn nộ”. ĐSPL Online. 
  37. ^ “Danh mục các kênh chương trình truyền hình sản xuất phục vụ truyền hình trả tiền”. Cục Phát thanh, Truyền hình và thông tin điện tử. Ngày 10 tháng 8 năm 2018. Truy cập ngày 19 tháng 12 năm 2019. 
  38. ^ “SDTV hoàn thành phủ sóng truyền hình số 20 tỉnh, thành Nam Bộ”. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]