Châu Thành, Hậu Giang

Châu Thành
Huyện
Huyện Châu Thành
Thị trấn Ngã Sáu.jpg
Khu thương mại thị trấn Ngã Sáu
Hành chính
Quốc giaViệt Nam
VùngĐồng bằng sông Cửu Long
TỉnhHậu Giang
Huyện lỵThị trấn Ngã Sáu
Trụ sở UBNDTỉnh lộ 925, ấp Thuận Hưng, thị trấn Ngã Sáu
Phân chia hành chính2 thị trấn, 6 xã
Thành lập1913
Địa lý
Tọa độ: 9°55′22″B 105°48′37″Đ / 9,92278°B 105,81028°Đ / 9.92278; 105.81028
Bản đồ huyện Châu Thành
Châu Thành trên bản đồ Việt Nam
Châu Thành
Châu Thành
Vị trí huyện Châu Thành trên bản đồ Việt Nam
Diện tích140,86 km²[1]
Dân số (2020)
Tổng cộng88.079 người[1]
Thành thị21.764 người (24%)
Nông thôn66.462 người (76%)
Mật độ624 người/km²
Dân tộcKinh, Hoa, Khmer
Khác
Mã hành chính933[2]
Biển số xe95-G1
Websitechauthanh.haugiang.gov.vn

Châu Thành là một huyện nằm ở phía Đông Bắc của tỉnh Hậu Giang, Việt Nam.

Địa lý[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Châu Thành là cửa ngõ của tỉnh Hậu Giang, cách trung tâm tỉnh 25 km về hướng đông bắc và cách trung tâm thành phố Cần Thơ 10 km[1], có vị trí địa lý:

Địa hình, địa mạo[sửa | sửa mã nguồn]

Nhìn chung tương đối bằng phẳng, bề mặt bị chia cắt bởi hệ thống kênh rạch chằng chịt. Cao độ trung bình từ 0,3m – 1,2m; độ dốc nghiêng dần từ sông Hậu vào nội đồng theo hướng Bắc – Nam; Đông – Tây (từ phía bờ sông và phía Quốc lộ 1 vào trong đồng ruộng). Do đó, đã tạo thuận lợi cho phát triển công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp và sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, cũng gây khó khăn cho việc xây dựng hạ tầng kỹ thuật, cơ giới hoá nông nghiệp, phát triển giao thông đường bộ và ảnh hưởng đến đời sống, sinh hoạt của người dân.[1]

Khí hậu[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, ít bão, quanh năm nóng ẩm, với những đặc trưng chủ yếu sau:

  • Chế độ nhiệt: trung bình năm khá cao khoảng 27,6°C. Tháng 1 có nhiệt độ thấp nhất 26°C, tháng 5 có nhiệt độ cao nhất là 30°C.
  • Chế độ mưa: trong năm hình thành hai mùa mưa và khô. Mùa mưa từ tháng 5-11 trùng với gió mùa Tây Nam. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau trùng với gió mùa Đông Bắc. Lượng mưa cả năm khoảng 1.309,8 mm, chiếm 90% tổng lượng mưa cả năm. Lượng mưa tuy lớn nhưng phân bố không đều giữa các tháng trong mùa nên gây tình trạng ngập úng trong mùa mưa.
  • Chế độ ẩm: cao và ổn định, ít biến đổi qua các năm, trung bình cả năm 81,8%, thấp nhất là 74% vào tháng 3 và cao nhất là 86% vào tháng 10.
  • Chế độ nắng: số giờ nắng trong năm khá cao khoảng 2.612,6 giờ/năm.
  • Chế độ gió: phổ biến với hai hướng gió chính là gió mùa Tây Nam thường xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 11, thổi vào từ vịnh Thái Lan, mang theo nhiều hơi nước nên gây mưa; và gió mùa Đông Bắc thường xuất hiện từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, thổi từ lục địa sang nên khô và nóng. Ngoài ra, khoảng từ tháng 2 đến tháng 4 còn có gió chướng, trong mùa mưa còn xuất hiện các cơn lốc xoáy bất ngờ, gây ảnh hưởng tới sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.[1]

Thuỷ văn[sửa | sửa mã nguồn]

Chế độ thuỷ văn trên địa bàn Huyện chịu tác động của 3 yếu tố: dòng chảy chính sông Hậu cùng với 4 nhánh sông: Cái Côn, Cái Dầu, Mái Dầm và Cái Cui; chế độ mưa nội tại và chế độ thuỷ triều biển Đông.

Thuỷ triều biển Đông: chế độ bán nhật triều với 2 kỳ triều cường (1 và 15 âm lịch) và 2 kỳ triều kém (7 và 23 âm lịch) trong mỗi tháng, thời gian mỗi kỳ kéo dài 2-3 ngày. Thủy triều biển Đông theo sông Hậu và kênh rạch tác động vào khu vực phía Bắc khá mạnh, yếu dần khi vào sâu trong nội đồng (5-10 km). Biên độ triều chênh lệch khá lớn nên có tác dụng lớn trong việc tưới tiêu cho hầu hết diện tích đất đai trên địa bàn.

Chế độ dòng chảy trên sông rạch: chia thành 2 mùa rõ rệt bao gồm:

  • Mùa kiệt: nối tiếp mùa lũ từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Mặc dù lưu lượng nước trên sông, rạch thấp nhưng do tác động của thủy triều và do huyện nằm cạnh sông Hậu nên toàn bộ diện tích có thể khai thác khả năng tưới tự chảy.
  • Mùa lũ: bắt đầu từ tháng 8 đến tháng 11. Dòng chảy của lũ thời kỳ đầu tập trung trong lòng dẫn, sau đó vượt qua bờ bao tràn vào đồng ruộng gây ngập lụt. Tuy nhiên vào mùa lũ việc sản xuất nông nghiệp trên địa bàn Huyện ít bị ảnh hưởng do hệ thống đê bao đã khá hoàn chỉnh.[1]

Tài nguyên đất[sửa | sửa mã nguồn]

Hiện nay trên địa bàn huyện có 3 nhóm đất chính là đất phù sa, đất phèn và đất líp, Trong đó:

  • Nhóm đất phù sa: diện tích khoảng 4.579 ha, chiếm 32,51% diện tích tự nhiên, bao gồm các loại như Đất phù sa có tầng loang lổ đỏ vàng (Pf); đất phù sa gley (Pg); đất phù sa có đốm rỉ P(f); đất phù sa có tầng loang lỗ, có kết von giả Pf(c).
  • Nhóm đất phèn: diện tích khoảng 100 ha, chiếm 0,71% diện tích tự nhiên, bao gồm các loại như Đất phèn hoạt động đã thủy phân rất sâu >80 cm (Srj3); đất phèn hoạt động đã thủy phân sâu 50-80 cm (Srj2).
  • Nhóm líp: diện tích khoảng 8.263,23 ha, chiếm 58,66% diện tích tự nhiên, phân bố tập trung dọc theo các tuyến kênh rạch, các trục lộ giao thông lớn, các cụm, tuyến dân cư tập trung. Đất không bị ngập lũ, thành phần lý hóa tính đã bị thay đổi nhiều do quá trình sử dụng.

Ngoài ra, đất sông, kênh, rạch có diện tích 1.144,04 ha, chiếm 8,12% diện tích tự nhiên, phân đều trên địa bàn huyện.[1]

Tài nguyên nước[sửa | sửa mã nguồn]

Nước mặt: huyện có nguồn nước mặt dồi dào do được cung cấp bởi hệ thống sông, kênh, rạch khá dày đặc trên địa bàn, đặc biệt là nguồn nước từ sông Hậu, sông Mái Dầm, sông Cái Côn. Đây là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.

Nước dưới đất: được phân bố khá rộng, nước ngọt phân bố chủ yếu ở các tầng chứa nước Pleistoxen, Plioxen, Mioxen ở độ sâu 100 – 500m, một số nơi chưa đến 50m đã có nước dưới đất với chất lượng khá tốt.[1]

Hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Châu Thành có 8 đơn vị hành chính cấp xã trực thuộc, bao gồm 2 thị trấn: Ngã Sáu (huyện lỵ), Mái Dầm và 6 xã: Đông Phú, Đông Phước, Đông Phước A, Đông Thạnh, Phú Hữu, Phú Tân với 59 ấp.

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Nguồn gốc địa danh Châu Thành[sửa | sửa mã nguồn]

Trong văn học dân gian ở Nam Bộ có khá nhiều câu sử dụng từ "châu thành", mặc dù trong văn bản được viết hoa, nhưng "châu thành" ở đây được dùng như là một danh từ chung, chỉ nơi phố xá đông đúc, văn minh. Từ "châu thành" vốn là một từ Hán-Việt, được sử dụng khá phổ biến ở Nam Bộ. Khái niệm "châu thành" có thể hiểu là:

  • Phố phường, thành thị, nơi dân cư đông đúc
  • Khu vực chính một xứ hay một tỉnh
  • Vùng đất bao quanh, ở cạnh thành phố, thị xã, đơn vị hành chính cấp huyện.

Sau khi chiếm nốt 3 tỉnh miền Tây Nam Kỳ, ngày 5 tháng 6 năm 1867, thực dân Pháp ra nghị định chia 6 tỉnh Nam Kỳ ra 24 hạt tham biện (arondissemnent). Viên cai trị hạt là tham biện (inspecteur, sau đổi là administrateur). Lỵ sở của hạt gọi là "châu thành", có chức năng như một "trung tâm hành chính" của hạt. Bắt đầu từ năm 1912, địa danh Châu Thành chính thức được đặt tên cho nhiều đơn vị hành chính cấp quận ở các tỉnh Nam Kỳ.

Ban đầu, "châu thành" chỉ các trung tâm hành chính, nơi có chợ búa, các cơ quan của hạt tham biện trú đóng. Sau khi thành lập các thị xã với chức năng "tỉnh lỵ", nó chiếm một phần diện tích của "châu thành", phần diện tích còn lại vẫn giữ tên cũ là quận Châu Thành và sau này là huyện Châu Thành. Hiện nay các thị xã tỉnh lỵ đó đều đã được nâng cấp trở thành các thành phố trực thuộc tỉnh.

Huyện Châu Thành thuộc tỉnh Hậu Giang ngày nay chính là quận Châu Thành thuộc tỉnh Cần Thơ thời Pháp thuộc. Khu vực trung tâm thành phố Cần Thơ ngày nay khi đó vẫn nằm trong quận Châu Thành. Trong giai đoạn 1992-2003, huyện Châu Thành tiếp tục trở lại thuộc tỉnh Cần Thơ cho đến khi tỉnh này bị giải thể vào đầu năm 2004.

Thời Pháp thuộc[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 1913, thực dân Pháp thành lập quận Châu Thành thuộc tỉnh Cần Thơ. Ban đầu, quận Châu Thành gồm 2 tổng với 23 làng trực thuộc như sau (theo thống kê năm 1917):

  • Tổng Định Bảo gồm 12 làng: Mỹ Khánh, Nhơn Ái, Nhơn Nghĩa, Phú Lợi, Tân An, Tân Hòa Tây, Tân Thạnh Đông, Thạnh An, Thạnh Mỹ, Thới Bình, Thường Đông, Thường Thạnh Đông.
  • Tổng An Trường gồm 11 làng: An Hòa, Đình Hòa, Đông Lợi, Đông Thành, Đông Thành Trung, Mỹ Chánh, Mỹ Thuận, Phù Ly, Tân Lược, Tân Lược, Tân Phong, Tân Qưới

Ngày 10 tháng 7 năm 1921, địa giới hành chính của quận được điều chỉnh. Về sau, tổng An Trường được giao cho quận Trà Ôn (lúc bấy giờ cùng thuộc tỉnh Cần Thơ) quản lý. Đến thời Việt Nam Cộng hòa, tổng An Trường thuộc địa bàn quận Bình Minh của tỉnh Vĩnh Long. Cũng sau này, thực dân Pháp cho hợp nhất một số làng và lấy tên gọi mới cho các làng mới sáp nhập.

Ngày 18 tháng 12 năm 1928, Toàn quyền Đông Dương ra nghị định thành lập các thành phố Bạc Liêu, Cần Thơ, Rạch Giá và Mỹ Tho có Ủy ban thành phố, thị trưởng do chủ tỉnh bổ nhiệm và có ngân sách riêng. Tuy nhiên sau này vẫn thường gọi là thị xã Cần Thơ. Thị xã Cần Thơ được thành lập trên phần đất làng Tân An trước đó.

Ngày 24 tháng 12 năm 1932, quận Châu Thành đổi tên thành quận Cái Răng, Dinh quận ở gần chợ Cái Răng. Tên quận mới được lấy theo tên gọi nơi đặt quận lỵ mới là Cái Răng (thuộc làng Thường Thạnh), còn trước đó quận lỵ quận Châu Thành cũ đặt ngay tại tỉnh lỵ Cần Thơ (thuộc làng Tân An).

Ngày 27 tháng 6 năm 1934, quận lấy lại tên cũ là Châu Thành, Dinh quận lại dời về Dinh xã Tây (nay là Ủy ban nhân dân Thành phố Cần Thơ).

Trong kháng chiến chống thực dân Pháp, tháng 8 năm 1946, huyện Châu Thành tách ra để thành lập thị xã Cần Thơ.

Giai đoạn 1956-1975[sửa | sửa mã nguồn]

Sau năm 1956, chính quyền Việt Nam Cộng hòa đặt quận Châu Thành thuộc tỉnh Phong Dinh, quận lỵ đặt tại xã Tân An (nay thuộc khu vực quận Ninh Kiều, Thành phố Cần Thơ). Tuy nhiên, sau này quận lỵ lại dời về Cái Răng lần nữa. Từ năm 1956 đến năm 1970, tỉnh lỵ Cần Thơ của tỉnh Phong Dinh cũng nằm trong khu vực xã Tân An, quận Châu Thành. Cũng trong giai đoạn này, một phần của quận Châu Thành cũng được tách ra để thành lập thêm các quận Thuận Nhơn, Phong Điền và Phong Thuận như sau:

  • Ngày 2 tháng 7 năm 1962, tách một phần đất của quận Châu Thành để lập thêm quận Khắc Nhơn (quận lỵ đặt tại Bảy Ngàn). Ngày 20 tháng 4 năm 1964 đổi tên quận Khắc Nhơn thành quận Thuận Nhơn. Sau đó quận lỵ quận Thuận Nhơn cũng được dời về Một Ngàn. Quận Thuận Nhơn trước năm 1975 gồm 5 xã: Thạnh Hòa, Tân Bình, Tân Hòa, Chủ Thiện, Lệ Tâm. Quận lỵ đặt tại Một Ngàn, về mặt hành chánh thuộc xã Tân Hòa.
  • Ngày 26 tháng 5 năm 1966, quận Phong Điền thuộc tỉnh Phong Dinh được chính quyền Việt Nam Cộng hòa thành lập trên cơ sở tách một phần đất của các quận Châu Thành, Phong Phú, Thuận Nhơn trước đó. Quận Phong Điền khi đó gồm 5 xã: Nhơn Nghĩa, Nhơn Ái, Trường Long, Mỹ Khánh, Cầu Nhiếm. Trong đó, xã Cầu Nhiếm được thành lập do tách một phần đất của các xã Tân Thới và Trường Thành cùng thuộc quận Phong Phú.
  • Năm 1970, lại tách các xã Phú Hữu, Đông Phú ra khỏi quận Châu Thành hợp với các xã Xuân Hòa, An Lạc Thôn, Phong Nẫm của quận Kế Sách, tỉnh Ba Xuyên trước đó để thành lập thêm quận Phong Thuận trực thuộc tỉnh Phong Dinh. Quận Phong Thuận khi đó gồm 5 xã: Phú Hữu, Đông Phú, Xuân Hòa, An Lạc Thôn, Phong Nẫm. Quận lỵ đặt tại Cái Côn, về mặt hành chánh thuộc xã An Lạc Thôn.

Theo Sắc lệnh số 115-SL/NV của Thủ tướng Việt Nam Cộng hòa Trần Thiện Khiêm ngày 30 tháng 9 năm 1970, tách các xã Tân An, Thuận Đức, ấp Lợi Nguyên thuộc xã An Bình và ấp Bình Nhựt thuộc xã Long Tuyền cùng thuộc quận Châu Thành để thành lập Thị xã Cần Thơ.

Cho tới năm trước 1975, quận Châu Thành gồm 8 xã: Thạnh An, Tân Phú Thạnh, Thường Thạnh, Thường Thạnh Đông, An Bình, Giai Xuân, Long Tuyền, Phú Thứ. Quận lỵ đặt tại Cái Răng, về mặt hành chánh thuộc xã Thường Thạnh.

Về phía chính quyền Cách mạng, sau năm 1956 huyện Châu Thành vẫn trực thuộc tỉnh Cần Thơ. Tháng 10 năm 1966, huyện Châu Thành thuộc tỉnh Cần Thơ được chia ra thành hai huyện là Châu Thành A và Châu Thành B. Cuối 1967 nhập lại là Châu Thành. Sau nhiều lần chia tách rồi sáp nhập Châu Thành Vòng Cung vào Châu Thành A, Châu Thành B nhập lại là huyện Châu Thành.

Năm 1965, Tỉnh ủy Cần Thơ quyết định tách xã Trường Thành thuộc huyện Ô Môn ra hai xã là xã Trường Thành và xã Trường Long, đồng thời giao Trường Long về cho huyện Châu Thành A quản lý. Đến năm 1973, tiếp tục tách xã Trường Long thành hai xã: Trường Long và Trường Long Tây. Trong đó, địa bàn xã Trường Long Tây thuộc huyện Châu Thành A trùng với địa bàn xã Lệ Tâm thuộc quận Thuận Nhơn, tỉnh Phong Dinh của chính quyền Việt Nam Cộng hòa.

Giai đoạn 1975-2003[sửa | sửa mã nguồn]

Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính quyền quân quản Cộng hòa miền Nam Việt Nam của tỉnh Cần Thơ đã giải thể các quận Thuận Nhơn, Phong Điền, Phong Thuận trước đó; đồng thời vẫn đặt huyện Châu Thành thuộc tỉnh Cần Thơ như trước. Huyện lỵ là thị trấn Cái Răng, được thành lập do tách đất từ xã Thường Thạnh. Lúc này, chính quyền Cách mạng cũng có sự điều chỉnh các xã thuộc huyện Châu Thành như sau:

  • Trả các xã Xuân Hòa, An Lạc Thôn và Phong Nẫm về cho huyện Kế Sách như trước.
  • Giải thể xã Chủ Thiện (trước đó thuộc quận Thuận Nhơn) và sáp nhập địa bàn xã này vào xã Nhơn Nghĩa.
  • Giải thể xã Lệ Tâm, đồng thời đổi tên xã này thành xã Trường Long Tây thuộc huyện Châu Thành. Một phần nhỏ diện tích xã Lệ Tâm trước đó được sáp nhập vào xã Trường Xuân thuộc huyện Ô Môn.
  • Giải thể xã Cầu Nhiếm, sáp nhập trở lại vào địa bàn các xã Tân Thới và Trường Thành của huyện Ô Môn như trước.
  • Giao xã Đông Phước trước đó thuộc quận Phụng Hiệp về cho huyện Châu Thành quản lý.
  • Giao các xã Thạnh Hòa, Tân Bình (trước đó thuộc quận Thuận Nhơn) về cho huyện Phụng Hiệp quản lý. Đồng thời, tách một phần đất của xã Thạnh Hòa để thành lập xã Thạnh Xuân trực thuộc huyện Châu Thành.

Theo Nghị định số 03/NĐ-76 ngày 24 tháng 2 năm 1976 và Quyết định số 17/QĐ-76 ngày 24 tháng 3 năm 1976, Chính phủ Việt Nam quyết định hợp nhất ba đơn vị hành chính cấp tỉnh ngang bằng nhau là tỉnh Sóc Trăng, tỉnh Cần Thơthành phố Cần Thơ để thành lập một tỉnh mới có tên là tỉnh Hậu Giang. Lúc này, Châu Thành là huyện của tỉnh Hậu Giang, với huyện lỵ là thị trấn Cái Răng.

Tháng 12 năm 1976, hợp nhất hai xã Thạnh An và Phú Thứ lại thành xã Phú An. Từ đây, huyện Châu Thành bao gồm thị trấn Cái Răng và 15 xã: Đông Phú, Đông Phước, Đông Thạnh, Giai Xuân, Mỹ Khánh, Nhơn Ái, Nhơn Nghĩa, Phú An, Phú Hữu, Tân Hòa, Tân Phú Thạnh, Thạnh Xuân, Thới An Đông, Trường Long, Trường Long Tây.

Ngày 21 tháng 4 năm 1979, Hội đồng Chính phủ ban hành Quyết định số 174-CP[3] về việc điều chỉnh địa giới một số xã thuộc tỉnh Hậu Giang. Theo đó sáp nhập xã Mỹ Khánh, xã Giai Xuân và ấp Thới Thuận, ấp Thới Hòa, ấp Thới Ngươn của xã Thới An Đông thuộc huyện Châu Thành vào thành phố Cần Thơ cùng thuộc tỉnh Hậu Giang. Huyện Châu Thành còn lại thị trấn Cái Răng và 12 xã: Đông Phú, Đông Phước, Đông Thạnh, Nhơn Ái, Nhơn Nghĩa, Phú An, Phú Hữu, Tân Hòa, Tân Phú Thạnh, Thạnh Xuân, Trường Long, Trường Long Tây.

Ngày 15 tháng 9 năm 1981, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số 70-HĐBT[4] về việc chia một số xã để thành lập các xã mới thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang như sau:

  • Chia xã Phú Hữu thành 3 xã: Phú Hữu, Phú Hoà và Phú Tân.
  • Chia xã Đông Phước thành 3 xã: Đông Phước, Đông Sơn và Đông An.
  • Chia xã Nhơn Nghĩa thành 2 xã: Nhơn Nghĩa và Nhơn Hoà.
  • Chia xã Trường Long Tây thành 3 xã: Trường Lộc, Trường Hưng và Trường Bình.
  • Chia xã Tân Hoà thành 2 xã: Tân Hoà và Tân Thuận.

Năm 1989, hợp nhất hai xã Thường Thạnh và Thường Thạnh Đông lại thành xã Đông Thạnh.

Sau đó, 8 xã: Phú Hòa, Phú Tân, Đông Sơn, Đông An, Nhơn Hòa, Trường Lộc, Trường Hưng và Trường Bình lại bị giải thể; đồng thời lấy lại tên xã Trường Long Tây như trước.[5]

Ngày 26 tháng 12 năm 1991, Quốc hội Việt Nam ban hành Nghị quyết chia tỉnh Hậu Giang thành tỉnh Cần Thơ và tỉnh Sóc Trăng. Huyện Châu Thành thuộc tỉnh Cần Thơ, bao gồm thị trấn Cái Răng và 13 xã: Đông Phú, Đông Phước, Đông Thạnh, Nhơn Ái, Nhơn Nghĩa, Phú An, Phú Hữu, Tân Hòa, Tân Phú Thạnh, Tân Thuận, Thạnh Xuân, Trường Long, Trường Long Tây.[6]

Ngày 06 tháng 11 năm 2000, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 64/2000/NĐ-CP[7] về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Châu Thành để tái lập huyện Châu Thành A, tỉnh Cần Thơ như sau:

  • Tái lập huyện Châu Thành A trên cơ sở 22.139 ha diện tích tự nhiên và 163.357 nhân khẩu của huyện Châu Thành.
  • Huyện Châu Thành A gồm 8 đơn vị hành chính trực thuộc, các xã: Tân Thuận, Thạnh Xuân, Tân Hoà, Trường Long, Nhơn Ái, Nhơn Nghĩa, Trường Long Tây và Tân Phú Thạnh.

Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính để tái lập huyện Châu Thành A, huyện Châu Thành có 18.851 ha diện tích tự nhiên và 121.689 nhân khẩu, gồm 6 đơn vị hành chính trực thuộc, 5 xã: Đông Thạnh, Đông Phú, Đông Phước, Phú An, Phú Hữu và thị trấn Cái Răng.

Ngày 10 tháng 7 năm 2001, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 37/2001/NĐ-CP[8] về việc thành lập xã, thị trấn thuộc các huyện Châu Thành và Châu Thành A, tỉnh Cần Thơ như sau:

  • Thành lập xã Phú Hữu A trên cơ sở 1.799 ha diện tích tự nhiên và 10.593 nhân khẩu của xã Phú Hữu
  • Thành lập thị trấn Ngã Sáu trên cơ sở 1.100 ha diện tích tự nhiên và 5.530 nhân khẩu của xã Đông Phước
  • Thành lập xã Đông Phước A trên cơ sở 2.258 ha diện tích tự nhiên và 9.290 nhân khẩu của xã Đông Phước

Từ đó, huyện Châu Thành bao gồm 2 thị trấn: Cái Răng, Ngã Sáu và 7 xã: Đông Phú, Đông Phước, Đông Phước A, Đông Thạnh, Phú An, Phú Hữu, Phú Hữu A.

Trước năm 2004, Châu Thành vốn là một huyện thuộc tỉnh Cần Thơ cũ, với huyện lỵ là thị trấn Cái Răng. Địa bàn huyện Châu Thành khi đó rất rộng lớn, bao gồm toàn bộ các huyện Châu Thành, Châu Thành A của tỉnh Hậu Giang, một phần huyện Phong Điền và một phần quận Cái Răng của thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương hiện nay. Ngày 6 tháng 11 năm 2000, dựa theo Nghị định số 64/2000/NĐ-CP, huyện Châu Thành được tách ra để thành lập mới huyện Châu Thành A lúc bấy giờ cùng thuộc tỉnh Cần Thơ.

Từ năm 2004 đến nay[sửa | sửa mã nguồn]

Ngày 26 tháng 1 năm 2003, Quốc hội Việt Nam thông qua Nghị quyết số 22/2003/QH11[9], về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh. Theo đó, chia tỉnh Cần Thơ thành thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương và tỉnh Hậu Giang. Địa giới hành chính huyện Châu Thành bị chia tách một phần về thành phố Cần Thơ, một phần thuộc tỉnh Hậu Giang. Theo đó, một phần của huyện Châu Thành, bao gồm: thị trấn Cái Răng; các ấp Thạnh Mỹ, Thạnh Huề, Thạnh Thắng, Yên Hạ và 176 ha diện tích cùng với 2.216 ngưười của ấp Phú Quới thuộc xã Đông Thạnh; các ấp Thạnh Hóa, Thạnh Hưng, Thạnh Thuận, An Hưng, Thạnh Phú, Phú Khánh, Khánh Bình và 254,19 ha diện tích cùng với 1.806 người của ấp Phú Hưng thuộc xã Phú An; các ấp Phú Thành, Phú Thạnh, Phú Thuận, Phú Thuận A và 304,61 ha diện tích cùng với 1.262 người của ấp Phú Lợi thuộc xã Đông Phú được giao về cho thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương quản lý. Tỉnh Hậu Giang quản lý phần còn lại của huyện Châu Thành.

Ngày 02 tháng 1 năm 2004, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 05/2004/NĐ-CP[10] về việc điều chỉnh địa giới hành chính thành lập các quận Ninh Kiều, Bình Thủy, Cái Răng, Ô Môn và các huyện Phong Điền, Cờ Đỏ, Vĩnh Thạnh, Thốt Nốt và các xã, phường, thị trấn thuộc thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương. Theo đó, toàn bộ 246,37 ha diện tích tự nhiên và 13.968 nhân khẩu của thị trấn Cái Răng, 1.035,81 ha diện tích tự nhiên và 10.431 nhân khẩu của xã Đông Thạnh, 2.013,29 ha diện tích tự nhiên và 12.781 nhân khẩu của xã Phú An, 806,66 ha diện tích tự nhiên và 6.386 nhân khẩu của xã Đông Phú được điều chỉnh để thành lập các phường Lê Bình, Thường Thạnh, Phú Thứ, Tân Phú thuộc quận Cái Răng.

Ngày 2 tháng 1 năm 2004, theo các Nghị định số 05/2004/NĐ-CP và 06/2004/NĐ-CP, huyện Châu Thành và huyện Châu Thành A cùng thuộc về tỉnh Hậu Giang. Ngoài ra, một phần đất huyện Châu Thành cũng được nhập vào quận Cái Răng của thành phố Cần Thơ. Bên cạnh đó, một phần đất huyện Châu Thành A lại được nhập vào quận Cái Răng và huyện Phong Điền của thành phố Cần Thơ trực thuộc Trung ương. Cũng từ năm 2004, huyện lỵ huyện Châu Thành được dời về thị trấn Ngã Sáu, còn thị trấn Cái Răng cũ cũng được chuyển thành phường Lê Bình trực thuộc quận Cái Răng. Hiện nay, trung tâm hành chính quận Cái Răng được đặt ở phường Lê Bình, vốn cũng là nơi đặt thị trấn huyện lỵ Cái Răng của huyện Châu Thành trước năm 2004.

Đồng thời, cũng vào ngày 02 tháng 1 năm 2004, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 06/2004/NĐ-CP[11] về việc điều chỉnh địa giới hành chính các xã trực thuộc huyện Châu Thành và Châu Thành A thuộc tỉnh Hậu Giang.

Huyện Châu Thành sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, có 14.578,91 ha diện tích tự nhiên và 81.194 nhân khẩu; gồm 8 đơn vị hành chính trực thuộc là: thị trấn Ngã Sáu, các xã Đông Phú, Phú Hữu A, Phú Hữu, Phú An, Đông Thạnh, Đông Phước và Đông Phước A. Huyện lỵ được dời về thị trấn Ngã Sáu.

Ngày 24 tháng 8 năm 2009, Chính phủ Việt Nam ban hành Quyết định số 37/NQ-CP[12] về việc điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã, thị trấn thuộc huyện Châu Thành A, huyện Châu Thành, huyện Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang. Theo đó, thành lập xã Phú Tân trên cơ sở điều chỉnh 1.637 ha diện tích tự nhiên và 12.054 nhân khẩu của xã Phú Hữu.

Sau khi điều chỉnh địa giới hành chính xã, thành lập xã, thị trấn, huyện Châu Thành có 13.454,37 ha diện tích tự nhiên và 89.242 nhân khẩu, có 09 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm thị trấn Ngã Sáu và 8 xã: Phú Hữu, Phú Hữu A, Đông Phú, Phú An, Đông Phước, Đông Phước A, Đông Thạnh, Phú Tân.

Ngày 24 tháng 1 năm 2011, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 06/NQ-CP[13] về việc thành lập thị trấn Mái Dầm trên cơ sở nguyên trạng 1.601,68 ha diện tích tự nhiên và 11.737 nhân khẩu của xã Phú Hữu A.

Sau khi thành lập thị trấn Mái Dầm, huyện Châu Thành có 13.454 ha diện tích tự nhiên và 85.429 nhân khẩu; có 9 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm 7 xã: Phú Hữu, Phú Tân, Phú An, Đông Phú, Đông Phước A, Đông Phước, Đông Thạnh và các thị trấn: Ngã Sáu, Mái Dầm.

Ngày 10 tháng 1 năm 2020, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 869/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã thuộc tỉnh Hậu Giang (nghị quyết có hiệu lực từ ngày 1 tháng 2 năm 2020)[14]. Theo đó, giải thể xã Phú An, địa bàn nhập vào xã Đông Thạnh và thị trấn Ngã Sáu.

Huyện Châu Thành có 2 thị trấn và 6 xã như hiện nay.

Kinh tế - xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Kinh tế[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn 2016-2020, giá trị sản xuất (giá so sánh 2010) đạt 74.827 tỷ đồng. Tỷ trọng giá trị sản xuất (theo giá tăng thêm thực tế): khu vực nông, lâm và thủy sản 4,86%; khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 69,14%; khu vực thương mại – dịch vụ 26%. Cơ cấu kinh tế của huyện chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng khu vực công nghiệp – xây dựng và khu vực thương mại dịch vụ, giảm dần tỷ trọng khu vực nông nghiệp thủy sản. Tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội 16.918 tỷ đồng. Tổng thu ngân sách nhà nước 2.135 tỷ đồng, trong đó thu nội địa tăng bình quân 10%/năm; tổng thu ngân sách địa phương 1.646 tỷ đồng; chi đầu tư phát triển 425 tỷ đồng.[1]

Nông, lâm nghiệp - thủy sản[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn 2011-2019, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản (giá so sánh năm 2010) tăng bình quân 5,93%/năm, đạt 1.153.000 triệu đồng năm 2019 và tăng 425.767 triệu đồng so với năm 2011.

Trồng trọt
  • Cây lúa: Năm 2019, diện tích canh tác khoảng 15 ha giảm 5.160 ha so với năm 2011, tổng sản lượng lương thực đạt 279.824 tấn giảm 23.747 tấn so với năm 2011.
  • Hoa màu và cây công nghiệp ngắn ngày: Năm 2019 đạt 1.599 ha giảm 1.758 ha so với năm 2011, tổng sản lượng đạt 12.462 tấn, giảm 7.203 tấn so với năm 2011.
  • Cây lâu năm: Năm 2019, diện tích đất trồng cây lâu năm vẫn giữ vững khoảng 5.696 ha, tăng 292 ha so với năm 2011; tổng sản lượng đạt 92.175 tấn, tăng 55.879 tấn so với năm 2011.[1]
  • Cây ăn quả: Nguồn thu nhập chính của người dân vùng này là trồng lúa song vùng này đang chuyển đổi cơ cấu thiên về chuyên canh đặc sản vùng rất mạnh, một số loại trái cây được ưa chuộn như bưởi năm roi, bưởi ruột đỏ, sầu riêng. Nơi này nhà nào cũng nuôi một vài con heo, một số gia đình chuyên nuôi vịt chạy đồng, hiện này một số nông dân bắt đầu đầu tư nuôi bò sữa. Nơi này cũng là truyền thống của các thương lái mua bán trái cây, họ mua của nông dân rồi mang đi các chợ nổi Cái Răng, Phụng Hiệp, Ngã tư Cây Dương, Lái Thiêu (Sài Gòn), Bạc Liêu, Vĩnh Kim (Tiền Giang), Cần Thơ,...bán lại cho các vựa trái cây.
Chăn nuôi

Năm 2019, tổng đàn gia súc 6.061 con, giảm 5.531 con so với năm 2011 và đàn gia cầm là 257.110 triệu con tăng 44.950 triệu con so với năm 2011.[1]

Thủy sản

Trong những năm qua, mặc dù thị trường xuất khẩu gặp nhiều khó khăn nhưng ngành thủy sản đã đạt được những thành quả đáng ghi nhận. Năm 2019, tổng diện tích nuôi đạt 296 ha, giảm 104 ha so với năm 2011.[1]

Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp - xây dựng[sửa | sửa mã nguồn]

Trong những năm qua, mặc dù còn gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sản xuất công nghiệp vẫn phát triển với tốc độ tăng trưởng khá cao, sản phẩm đa dạng, phong phú đáp ứng kịp thời theo nhu cầu của thị trường, với các ngành nghề chủ lực như xay xát, gạch nung, hàng thủ công mỹ nghệ, vật liệu xây dựng, chế biến thủy sản,... Năm 2019, giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh năm 2010) là 13.906.068 triệu đồng, tăng 12.719.596 triệu đồng so với năm 2011; số cơ sở sản xuất công nghiệp là 664 cơ sở, tăng 76 cơ sở so với năm 2011; số lao động là 12.033 người, tăng 9.657 người so với năm 2011.[1]

Công nghiệp: Cụm công nghiệp Nam Sông Hậu với nhà máy đóng tàu VinaSin mới vừa khởi công xây dựng, nhà máy Giấy lớn nhất Việt Nam đang được xây dựng. Thủ công, mỹ nghệ: Hàng thủ công mỹ nghệ xuất khẩu với nguyên liệu là lục bình. Sản phẩm thủ công từ cây Lục Bình cũng đang phát triển mạnh, xuất khẩu ra nhiều nước trên thế giới và là những mặt hàng lưu niệm rất quý ở một số hãng dịch vụ du lịch của đồng bằng.

Xây dựng: Giai đoạn 2011-2020, huyện đã thực hiện được nhiều công trình, dự án từ vốn ngân sách Nhà nước, ngoài ra huyện còn huy động thêm cácnguồn vốn xã hội hóa cho đầu tư phát triển trên địa bàn nên đã góp phần thúc đẩy sự phát triển các loại hình dịch vụ - thương mại, nhà ở dân cư và nâng cao đời sống nhân dân; bộ mặt đô thị và nông thôn của huyện đã có bước chuyển biến, đổi mới rõ rệt.[1]

Thương mại - dịch vụ[sửa | sửa mã nguồn]

Giai đoạn 2016-2020,giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá so sánh năm 2010) là 13.499 tỷ đồng, tăng 76,18% so với giai đoạn 2011-2015; tổng mức hàng hóa bán ra và doanh thu dịch vụ tiêu dùng xã hội tăng bình quân 25,67%/năm; số cơ sở kinh doanh thương mại - dịch vụ là 1.722 cơ sở (năm 2020).[1]

Tình hình dân số, lao động, việc làm và thu nhập[sửa | sửa mã nguồn]

Năm 2020, dân số toàn huyện là 88.079 người, trong đó khu vực thành thị 21.617 người, chiếm 24,54%; khu vực nông thôn 66.462 người, chiếm 75,46%. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 10,11‰, mật độ dân số bình quân là 624 người/km², cao nhất là xã Đông Thạnh (942 người/km²), thấp nhất là xã Đông Phước (462 người/km²).

Giai đoạn 2011-2020, huyện đã tập trung huy động các nguồn lực và thực hiện các giải pháp xóa đói giảm nghèo, nên đã giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống còn 4,2%; đẩy mạnh công tác đào tạo và giải quyết việc làm nên tỷ lệ lao động qua đào tạo toàn huyện đạt 50%, giới thiệu, giải quyết việc làm khoảng 38.985 lao động có việc làm trong và ngoài huyện. Thu nhập bình quân đầu người đạt trên 45 triệu đồng/người/năm.[1]

Xã hội[sửa | sửa mã nguồn]

Giáo dục: Hiện nay trên địa bàn huyện có 2 trường trung học phổ thông: Ngã Sáu, Phú Hữu.

Dân số[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Châu Thành có dân số năm 2009 là 81.372 người, trong đó: dân số ở nông thôn là 73.854 người, dân số ở thành thị là 7.518 người. Mật độ dân số đạt 605 người/km².[15]

Năm 2018, huyện Châu Thành có diện tích là 140,90 km², dân số là 82.135 người, mật độ dân số đạt 583 người/km².[16]

Năm 2020, huyện Châu Thành có diện tích là 140,86 km², dân số là 88.079 người, mật độ dân số đạt 624 người/km².[1]

Bảng diện tích, dân số, mật độ dân số của huyện Châu Thành qua các năm
Năm
Diện tích (km²)
Tổng dân số (người)
Thành thị
Nông thôn
Mật độ dân số (người/km²)
2009
81.372
7.518
73.854
605
2014
81.476
19.307
62.169
2015
81.688
19.357
62.331
2016
81.907
19.446
62.461
2017
81.951
19.597
62.354
2018
140,90
82.135
19.812
62.323
583
2019
2020
140,86
88.079
21.764
66.462
624
Nguồn: Cổng thông tin điện tử tỉnh Hậu Giang

Văn hóa - Du lịch[sửa | sửa mã nguồn]

Di tích lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

  • Khu di tích tỉnh ủy Hậu Giang ở xã Phú Hữu cũ nay là xã Phú Tân, nằm trên địa phận rạch Ngã Lá.
  • Di tích Nam kỳ khởi nghĩa xã Phú Hữu A cũ nay thuộc thị trấn Mái Dầm, trước đây được xây dựng bên kia bờ sông Phú Lễ thuộc xã Phú Hữu cũ, nay là xã Phú Tân. Khu di tích Nam Kỳ Khởi Nghĩa hiện nay được xây dựng lại trên bờ sông đối diện khu di tích cũ, gần Ủy ban nhân dân xã Phú Hữu A, chợ Mái Dầm nay là thị trấn Mái Dầm
  • Nơi này cũng là truyền thống của võ thuật cổ truyền dân tộc, thời chiến tranh xuất hiện nhiều người có võ thuật rất tinh thông. Những năm 80 thế kỷ 20 những đoàn Lân sư rồng nổi tiếng khắp miền Tây nam bộ, thời gian sau truyền thống này đã không được dân gìn giữ tốt đã mai một, thời bấy giờ các đầu Lân và trang phục được lưu giữ trong nhà dân. Những thanh thiếu niên nay đã già, một số đã qua đời, đoàn Lân tiêu biểu như ông 2 Bê, ông Tư Lác, ông 8 Bé,...

Ẩm thực[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Châu Thành có truyền thống của võ thuật cổ truyền dân tộc, ngoài ra huyện có các đặc sản nổi tiếng như "Bưởi năm roi Phú Hữu", "Mắm nêm Phú Nghĩa",...

Làng Phú Nghĩa còn có một đặc sản mà ít ai biết đến đó là Mắm Nêm, mắm nêm là loại mắm làm từ con cá Cơm một loại cá nhỏ bằng đầu đũa ăn cơm, có màu trắng, sau khi mua từ các ghe Đáy ngoài sông Hậu (Basac còn gọi là sông Cái) người dân sẽ rửa sạch cá (không làm cá) và tiến hành ủ theo những bí quyết của họ, sau 2 đến 3 tháng tuỳ vào thời tiết có nhiều nắng hay không sản phẩm đã dùng được, mùi vị mắm Nêm thơm, ngọt dịu; đặc sản này một thời không thể thiếu trong các bữa cơm của các địa chủ trong vùng, những nhà giàu có thường dự trữ từ 5 đến 10 khạp da bò để ăn suốt năm.

Giao thông[sửa | sửa mã nguồn]

Giao thông đường bộ[sửa | sửa mã nguồn]

Huyện Châu Thành nằm giữa thành phố Cần Thơ và thành phố Ngã Bảy, đồng thời phía đông là sông Hậu nên thuận lợi về mặt giao thông. Quốc lộ 1 bao bọc phần phía tây nối liền Cần Thơ và thành phố Ngã Bảy qua xã Đông Phước A, còn phía đông là đường Nam Sông Hậu chạy qua địa bàn huyện và dọc theo sông Hậu. Trong khi đó tỉnh lộ 925 chạy từ Quốc lộ 1 nối trực tiếp với trung tâm huyện tại thị trấn Ngã Sáu.

Quốc lộ 1: Đoạn qua huyện dài khoảng 0,6 km, mặt bê tông nhựa rộng 11,0m, nền đường rộng 12,0m.

Đường Nam Sông Hậu: Đoạn qua huyện với chiều dài khoảng 9,0km, mặt láng nhựa rộng 8,0m, nền đường rộng 9,0m, và là tuyến giao thông quan trọng phục vụ cho phát triển các khu công nghiệp trên địa bàn.

Đường tỉnh ĐT.925, đoạn qua huyện có chiều dài 11,2km, mặt láng nhựa rộng 5,5m, nền đường rộng 9,0m. Hiện nay tuyến này đang được đầu tư nâng cấp, trong tương lai sẽ là trục trung tâm để phát triển mạng lưới giao thông của huyện.

Đường tỉnh ĐT.927C đoạn qua huyện có chiều dài 8,2km, có trục giao thông huyết mạch kết nối thành phố Ngã Bảy và thành phố Cần Thơ; kết nối với Quốc lộ 1 với Đường Nam Sông Hậu. Mặt khác, với vị trí tuyến đường song song và cách sông Cái Côn khoảng 200m, tạo điều kiện kết nối giao thông thủy - bộ liên hoàn, là điều kiện thuận lợi để hình thành và phát triển công nghiệp, xây dựng, đô thị, nâng cao năng lực cạnh tranh và góp phần tạo động lực cho sự phát triển của huyện.

Đường huyện có 6 tuyến đang được đầu tư và nâng cấp.

Giao thông nông thôn: trong những năm qua đã được phát triển với tốc độ nhanh, tạo điều kiện đi lại thuận lợi cho người dân.[1]

Giao thông đường thủy[sửa | sửa mã nguồn]

Giao thông thủy của huyện bao gồm các tuyến như sông Hậu, sông Mái Dầm, sông Cái Dầu và nhiều tuyến kênh, rạch vừa và nhỏ như Cái Cui, kênh Thầy Cai, rạch Vàm Gỗ,... góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và vận chuyển hàng hoá của nhân dân.[1]

Phía đông nam là Kênh Xáng Quản Lộ - Phụng Hiệp, tuyến giao thông thủy từ sông Hậu kéo dài đến Cà Mau.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a b c d e f g h i j k l m n o p q r s “Báo cáo thuyết minh tổng hợp Quy hoạch sử dụng đất thời kỳ 2021-2030 và kế hoạch sử dụng đất năm 2021 của huyện Châu Thành – tỉnh Hậu Giang”. Cổng thông tin điện tử tỉnh Hậu Giang. 4 tháng 11 năm 2021.
  2. ^ Tổng cục Thống kê
  3. ^ “Quyết định 174”. Truy cập 4 tháng 3 năm 2015.
  4. ^ “Quyết định 70”. Truy cập 4 tháng 3 năm 2015.
  5. ^ Quyết định 128-HĐBT về việc phân vạch, điều chỉnh địa giới một số xã thuộc các huyện Châu Thành, Mỹ Xuyên, Ô Môn, Phụng Hiệp, Thốt Nốt, Vị Thanh, Vĩnh Châu
  6. ^ Nghị quyết của Quốc hội CHXHCNVN ngày 26 tháng 12 năm 1991 về việc phân vạch lại địa giới hành chính một số tỉnh.
  7. ^ “Nghị định 64/2000/NĐ”. Truy cập 4 tháng 3 năm 2015.
  8. ^ “Nghị định 37/2001/NĐ”. Truy cập 4 tháng 3 năm 2015.
  9. ^ “Nghị quyết 22/2003/QH11 chia và điều chỉnh địa giới hành chính tỉnh”. Truy cập 4 tháng 3 năm 2015.
  10. ^ “Nghị định 05/2004/NĐ”. Truy cập 4 tháng 3 năm 2015.
  11. ^ “Nghị định 06/2004/NĐ”. Truy cập 4 tháng 3 năm 2015.
  12. ^ “Nghị quyết 37/NQ”. Truy cập 4 tháng 3 năm 2015.
  13. ^ “Nghị quyết 06/NQ”. Truy cập 4 tháng 3 năm 2015.
  14. ^ “Nghị quyết số 869/NQ-UBTVQH14 năm 2020 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã thuộc tỉnh Hậu Giang”.
  15. ^ “Giới thiệu chung về huyện Châu Thành”. Trang web Ủy ban Nhân dân huyện Châu Thành.
  16. ^ “Diện tích, dân số và mật độ dân số năm 2018 phân theo huyện/thị xã/thành phố thuộc tỉnh Hậu Giang”. Cổng thông tin điện tử tỉnh Hậu Giang. 31 tháng 12 năm 2018.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]