Minh Vương

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Minh Vương
Tên khai sinh Nguyễn Văn Vưng
Nghệ danh Minh Vương
Sinh 1 tháng 7, 1950 (67 tuổi)
Cần Giuộc, Long An
Quốc tịch Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Lĩnh vực hoạt động Cải lương
Giải thưởng Khôi nguyên vọng cổ (1964)
Nghệ sĩ Ưu tú (2007)
Giải Mai vàng (2008)

Minh Vương (sinh năm 1950) là nghệ sĩ cải lương nổi tiếng người Việt Nam. Ông được Nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú năm 2007 vì những thành tích đóng góp của mình trong nghệ thuật cải lương.[1]

Sự nghiệp[sửa | sửa mã nguồn]

Ông tên khai sinh là Nguyễn Văn Vưng, được cho là sinh ngày 1 tháng 7 (sau cuộc phẫu thuật ghép thận thành công vào ngày 1 tháng 7 năm 2012, Minh Vương quyết định chọn ngày này làm ngày sinh chính thức) năm 1950 tại Cần Giuộc, Long An. Gia đình ông có 7 anh em, đều sinh ra và lớn lên tại Long An, năm 10 tuổi anh theo cha mẹ lên Sài Gòn lập nghiệp. Ông theo học trung học, nhưng lại mê hát cải lương, nên tìm đến thầy Bảy Trạch. Ông từng đi làm em nuôi của những đào kép chính, phải khuân vác, xách đồ khi đoàn di chuyển, biểu diễn.[2]

Bắt đầu đi hát năm 14 tuổi (1963) và sau khi đoạt giải Khôi nguyên vọng cổ, được bầu Long ở đoàn Kim Chung mời ký hợp đồng. Ði hát chưa được 1 năm thì Minh Vương bị bệnh, tóc rụng, nên phải nghỉ ở nhà chữa bệnh. 1 năm sau, Minh Vương trở lại đoàn hát. Ông nhận bất cứ vai diễn nào với tâm niệm: "Có công mài sắt có ngày nên kim".[3]

Năm 1967, Minh Vương được hát kép chính, lúc đó 18 tuổi và thực sự năm đó đánh dấu sự trở lại đầy ấn tượng. Năm 1971, tên tuổi của Minh Vương thực sự bắt đầu tỏa sáng, được nhiều hãng băng đĩa chú ý, mời thu thanh. Đồng thời, Minh Vương được mời đóng phim Sám hối.[4]

Đến năm 1972 thì Minh Vương cùng vợ thành lập đoàn cải lương Việt Nam lưu diễn khắp nơi cho đến sự kiện 30 tháng 4 năm 1975. Minh Vương từng là diễn viên của Đoàn Sài Gòn, Đoàn văn Công Thành phố Hồ Chí Minh. Anh cũng đã từng đi sang biểu diễn ở các nước Tây Âu cùng với các nghệ sĩ tài danh khác.[5]

Danh hiệu, giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Khôi nguyên vọng cổ (1964)
  • Diễn viên sân khấu được yêu thích nhất sau 10 năm giải phóng do báo Tuổi Trẻ bình chọn (1985).
  • Huy chương vàng Hội diễn sân khấu chuyên nghiệp toàn quốc (1990).
  • Danh ca vọng cổ được yêu thích nhất do báo Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức (1990).
  • Giải nam - nữ diễn viên cải lương đóng chung được yêu thích nhất (cùng với Lệ Thủy) do báo Sân khấu Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức (1992).
  • Danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú năm 2007.
  • Kỷ lục Guinness Việt Nam 2008 cho cặp đào – kép đóng chung lâu năm và ăn ý nhất (cùng với Lệ Thủy).
  • Giải Mai vàng 2008 do báo Người lao động tổ chức.

Các vai diễn nổi bật[sửa | sửa mã nguồn]

Cải lương[sửa | sửa mã nguồn]

Các bài tân cổ nổi tiếng[sửa | sửa mã nguồn]

  • Chuyến tàu hoàng hôn (Tân nhạc: Hoài Linh, Minh Kỳ; cổ nhạc: Loan Thảo)
  • Bánh bông lan (Tác giả: Quế Chi, Viết Chung)
  • Hành trình trên đất phù sa
  • Võ Đông Sơ (Tác giả: Viễn Châu)
  • Tình anh bán chiếu (Soạn giả: Viễn Châu)
  • Tình đôi ta
  • Không cảm xúc
  • Tặng đời chiếc nón bài thơ (Sáng tác: Trần Phán)
  • Ngày hạnh phúc (Nhạc: Lam Phương; lời vọng cổ: Loan Thảo)
  • Vợ người ta (Nhạc: Phan Mạnh Quỳnh, lời vọng cổ: Anh Kiệt)
  • ...

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “NSƯT Minh Vương - Cuộc đời vinh quang và cay đắng”. Người lao động. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2017. 
  2. ^ 'Ông hoàng cải lương' Minh Vương: Đời tôi chữ tài đi với chữ tai”. Báo Thanh Niên. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2017. 
  3. ^ “Minh Vương - Trầm luân với 'đáo tụng đình'. Báo Tiền Phong. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2017. 
  4. ^ “Nghệ sĩ Minh Vương được cứu sống nhờ ghép tạng từ người chết não”. Thể thao Văn Hóa. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2017. 
  5. ^ “Vợ nghệ sĩ Minh Vương ân cần chăm sóc chồng tại đêm tiệc”. Vnexpress. Truy cập ngày 10 tháng 7 năm 2017. 

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]