Bạch Tuyết (nghệ sĩ cải lương)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bạch Tuyết (nghệ sĩ cải lương)
Tên khai sinh Nguyễn Thị Bạch Tuyết
Sinh 24 tháng 12, 1945 (68 tuổi)
An Phú, An Giang
Thể loại Cải lương

Bạch Tuyết (sinh năm 1945) là một nữ nghệ sĩ cải lương danh tiếng, được mệnh danh là "Cải lương chi bảo". Bà cũng là Tiến sĩ Nghệ thuật Cải lương đầu tiên của Việt Nam, được nhà nước Việt Nam tôn vinh danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân.

Thân thế, Sự nghiệp và Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Bà tên thật là Nguyễn Thị Bạch Tuyết, sinh 24 tháng 12 năm 1945 tại làng Khánh Bình, Châu Ðốc (nay thuộc xã Khánh An, huyện An Phú), tỉnh An Giang). Từ thuở còn đi học đã bộc lộ năng khiếu ca, ngâm, thường được các thầy cô đưa lên trình diễn trong những đêm văn nghệ.

Mồ côi mẹ năm 9 tuổi (1955), và bắt đầu đi hát ở những nhà hàng ca nhạc bằng những bài tân nhạc như "Nắng đẹp miền Nam", "Làng tôi", "Tiếng còi trong sương đêm"...

Cũng như những bạn cùng lứa, Bạch Tuyết rất hâm mộ nghệ sĩ Thanh Nga. Trong một lần gặp gỡ, nghệ sĩ Thanh Nga nhận xét rằng Bạch Tuyết rất có khiếu hát cải lương, lời khích lệ đó là một trong những động lực đưa bà đến với nghiệp hát xướng.

Năm 1960, Bạch Tuyết vào học trường nội trú của các ma-sơ Công giáo, thời gian này bà giao du học hỏi với nhiều nghệ sĩ, trong đó có soạn giả Điêu Huyền.[1] Nhờ đó tên tuổi của bà dần được xuất hiện trên các đài phát thanh, trên báo chí. Điêu Huyền nhận bà làm con nuôi, cho gia nhập đoàn Kiên Giang, sự kiện này giúp đỡ bà rất nhiều trong bước đường sau này.

Năm 1961, đoàn Kiên Giang diễn vở "Lá thắm chỉ hồng", cô đào chính tới trễ, khiến Bạch Tuyết bất ngờ được giao vai cô lái đò Lệ Chi, diễn xuất của bà khiến khán giả hết sức ngạc nhiên. Sau đó là những vở "Kiếp chồng chung", "Suối mơ rền áo cưới"... Bà được Út Trà Ôn mời về đoàn Thống Nhất, với vở "Tiếng hát Muồng Tênh", tên tuổi bà bắt đầu nổi.

Tuy đi hát, nhưng bà lại rất thích đi học. Đang hát và nổi tiếng với Đoàn Thống Nhất, thì bà nghỉ nửa năm để ôn thi Tú Tài.[1] Sau này, bà cũng nhiều lần đang hát thì nghỉ ngang như thế, để đi học.[1]

Cuối năm 1962, bà vào đoàn Bạch Vân. Năm sau được nhận giải Thanh Tâm cho diễn viên triển vọng.

Năm 1964, bà về hát cho đoàn Dạ Lý Hương, hợp tác với các soạn giả danh tiếng bấy giờ là Hà Triều - Hoa Phượng, tài năng của bà càng được khẳng định. Năm sau, vở "Tần Nương Thất" đã mang lại cho bà huy chương vàng giải Thanh Tâm cho nghệ sĩ xuất sắc.

Năm 1966, Hùng Cường gia nhập đoàn Dạ Lý Hương, cùng với Bạch Tuyết tạo thành 1 cặp đôi hoàn hảo trong mắt khán giả. Bà ở lại đoàn Dạ Lý Hương thêm 2 năm nữa.

Sau năm 1968, tình hình chiến tranh lan rộng, bà ngừng hát một thời gian. Đến năm 1971, cùng với Hùng Cường, mở gánh hát Hùng Cường - Bạch Tuyết (sau này đổi thành Đoàn ca kịch Bạch Tuyết), diễn các vở kinh điển như: "Trăng Thề Vườn Thúy”, “Má Hồng Phận Bạc”, “Cung Thương sầu nguyệt hạ”. Gánh hát này được rất đông người hâm mộ, tuy nhiên do không biết cách quản lý, sau 1 thời gian đã ngưng hoạt động. Sau đó bà chuyển sang học Luật.

Năm 1985 (40 tuổi), Bạch Tuyết bước vào giảng đường đại học và có được bằng Cử nhân Ngữ văn.

Năm 1988, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Ưu tú, cũng năm này bà tốt nghiệp khoa đạo diễn ở Viện hàn lâm Sân khấu và Điện ảnh tại Sofia - Bulgaria.

Năm 1995, bà bảo vệ luận án Tiến sĩ với đề tài "Sự thích nghi của nghệ thuật sân khấu dân tộc cổ truyền của các quốc gia Đông Nam Á", trở thành tiến sĩ nghệ thuật Cải lương đầu tiên của Việt Nam.

Năm 2012, bà được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân ở lần xét duyệt thứ 7 (năm 2011)

Những vai diễn đáng nhớ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thái hậu Dương Vân Nga
  • Lệ Chi trong vở "Lá thắm chỉ hồng"
  • Loan trong vở "Đoạn tuyệt"
  • Cô Lựu trong vở "Đời cô Lựu"
  • Trường An trong vở "Tuyệt tình ca"
  • Tần nương trong vở "Tần Nương Thất"
  • Lý Chiêu Hoàng trong vở "Lý Chiêu Hoàng"
  • An Tư trong vở "Thượng hoàng Trần Nhân Tông"
  • Kiều Nguyệt Nga trong vở "Lục Vân Tiên"
  • bà Hạnh trong vở "Tóc mai sợi vắn"

CD, băng nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kim Vân Kiều
  • Kinh Pháp Cú
  • Đức Phật Thích Ca

Và nhiều tác phẩm khác:

  • Kiều Nguyệt Nga
  • Đời Cô Lựu
  • Thái Hậu Dương Vân Nga
  • Mùa Thu Lá Bay

Những phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bà từng tìm cách quyên sinh 3 lần nhưng bất thành.
  • Bà từng quy y Tam bảo Phật giáo với pháp danh Diệu Lộc.
  • Bà kết hôn lần đầu tiên với danh thủ bóng đá Phạm Huỳnh Tam Lang năm 1967. Cuộc hôn nhân tan vỡ năm 1974 vì lý do riêng tư. Hai người không có con chung. Cho đến mãi về sau này 2 người đều dành cho nhau những lời tốt đẹp.
  • Sau khi ly dị, cũng ngay trong năm 1974, bà lập gia đình lần thứ 2 với ông Charles Đức, một Việt kiều quốc tịch Pháp. Ông bà có với nhau một người con trai tên là Bảo Giang Valery Bauduin, hiện đang công tác ở Mỹ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă â Hoàng Kim (30/10/2011). “Giải Thanh Tâm Ngày ấy... bây giờ - Kỳ 1: “Cải lương chi bảo” Bạch Tuyết”. 

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]