Bạch Tuyết (nghệ sĩ cải lương)

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới: menu, tìm kiếm
Bạch Tuyết
Sinh Nguyễn Thị Bạch Tuyết
24 tháng 12, 1945 (71 tuổi)
An Phú, An Giang
Nơi cư trú Thành phố Hồ Chí Minh
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Tên khác Nguyễn Thị Khánh An (bút danh)
Dân tộc Kinh
Quốc tịch Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Học vị Tiến sĩ
Nghề nghiệp Nghệ sĩ
Năm hoạt động 55 năm +
Nổi tiếng vì Cải lương
Tác phẩm nổi bật Đau xót lý chim quyên
Miền nhớ
Tình ca quê hương
Quê quán An Giang
Chương trình TV Bước chân hai thế hệ
Sao nối ngôi
Phối ngẫu Phạm Huỳnh Tam Lang
Giải thưởng 1963: Giải Thanh Tâm
1988: Nghệ sĩ Ưu tú
2012: Nghệ sĩ Nhân dân

Bạch Tuyết (sinh ngày 24 tháng 12 năm 1945) là nữ nghệ sĩ cải lương danh tiếng, được mệnh danh là "Cải lương chi bảo". Bà cũng là Tiến sĩ Nghệ thuật Cải lương đầu tiên của Việt Nam, được Nhà nước Việt Nam tôn vinh danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân.

Bà còn viết lời vọng cổ cho các bài tân nhạc với bút danh là Nguyễn Thị Khánh An.

Thân thế, sự nghiệp và giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Bà tên thật là Nguyễn Thị Bạch Tuyết, sinh 24 tháng 12 năm 1945 tại làng Khánh Bình, Châu Ðốc (nay thuộc xã Khánh An, huyện An Phú), tỉnh An Giang. Từ thuở còn đi học đã bộc lộ năng khiếu ca, ngâm, thường được các thầy cô đưa lên trình diễn trong những đêm văn nghệ.

Mồ côi mẹ khi 9 tuổi (1955), và bắt đầu đi hát ở những nhà hàng ca nhạc bằng những bài tân nhạc như "Nắng đẹp miền Nam", "Làng tôi", "Tiếng còi trong sương đêm"...

Cũng như những bạn cùng lứa, Bạch Tuyết rất hâm mộ Thanh Nga. Trong một lần gặp gỡ, Thanh Nga nhận xét rằng Bạch Tuyết rất có khiếu hát cải lương, lời khích lệ đó là một trong những động lực đưa bà đến với nghiệp hát xướng.

Năm 1960, Bạch Tuyết vào học trường nội trú của các ma-sơ Công giáo, thời gian này, bà giao du học hỏi với nhiều nghệ sĩ, trong đó có soạn giả Điêu Huyền.[1] Nhờ đó tên tuổi của bà dần được xuất hiện trên các đài phát thanh, trên báo chí. Điêu Huyền nhận bà làm con nuôi, cho gia nhập đoàn Kiên Giang, sự kiện này giúp đỡ bà rất nhiều trong bước đường sau này.

Năm 1961, đoàn Kiên Giang diễn vở "Lá thắm chỉ hồng", cô đào chính tới trễ, khiến Bạch Tuyết bất ngờ được giao vai cô lái đò Lệ Chi, diễn xuất của bà khiến khán giả hết sức ngạc nhiên. Sau đó là vở "Kiếp chồng chung", "Suối mơ rền áo cưới"... Bà được Út Trà Ôn mời về đoàn Thống Nhất, với vở "Tiếng hát Muồng Tênh", tên tuổi bà bắt đầu nổi.

Tuy đi hát, nhưng bà lại rất thích đi học. Đang hát và nổi tiếng với Đoàn Thống Nhất, thì bà nghỉ nửa năm để ôn thi Tú Tài.[1] Sau này, bà cũng nhiều lần đang hát thì nghỉ ngang như thế, để đi học.[1]

Cuối năm 1962, bà vào đoàn Bạch Vân. Năm sau được nhận giải Thanh Tâm cho diễn viên triển vọng.

Năm 1964, bà về hát cho đoàn Dạ Lý Hương, hợp tác với các soạn giả danh tiếng bấy giờ là Hà Triều - Hoa Phượng, tài năng của bà càng được khẳng định. Năm sau, vở "Tần Nương Thất" đã mang lại cho bà huy chương vàng giải Thanh Tâm cho nghệ sĩ xuất sắc.

Năm 1966, Hùng Cường gia nhập đoàn Dạ Lý Hương, cùng với Bạch Tuyết tạo thành 1 cặp đôi hoàn hảo trong mắt khán giả. Bà ở lại đoàn Dạ Lý Hương thêm 2 năm nữa.

Sau năm 1968, tình hình chiến tranh lan rộng, bà ngừng hát một thời gian. Đến năm 1971, cùng với Hùng Cường, mở gánh hát Hùng Cường - Bạch Tuyết (sau này đổi thành Đoàn ca kịch Bạch Tuyết), diễn các vở kinh điển như: "Trăng Thề Vườn Thúy", "Má Hồng Phận Bạc", "Cung Thương sầu nguyệt hạ". Gánh hát này được rất đông người hâm mộ, tuy nhiên, do không biết cách quản lý, sau một thời gian đã ngưng hoạt động. Sau đó bà chuyển sang học Luật.

Năm 1985 (40 tuổi), Bạch Tuyết bước vào giảng đường đại học và có được bằng Cử nhân Ngữ văn.

Năm 1988, được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ ưu tú, cũng năm này bà tốt nghiệp khoa đạo diễn ở Viện Hàn lâm Sân khấu và Điện ảnh tại Sofia.

Năm 1995, bà bảo vệ luận án Tiến sĩ với đề tài "Sự thích nghi của nghệ thuật sân khấu dân tộc cổ truyền của các quốc gia Đông Nam Á", trở thành tiến sĩ nghệ thuật Cải lương đầu tiên của Việt Nam. Với tư cách giám đốc Trung tâm nghiên cứu bảo tồn phát triển văn hóa - văn hóa dân tộc của Đại học Bình Dương, bà đã tổ chức nhiều chương trình sân khấu có giá trị về nghệ thuật dân tộc. Hằng tháng, trung tâm này kết hợp cùng Đài truyền hình Bình Dương thực hiện chương trình “Chân dung đối thoại” với mục đích phổ biến, đề cao văn hóa nghệ thuật dân tộc.

Luôn đau đáu với sự nghiệp phát triển cải lương, bà ôm ấp kế hoạch xây dựng những “trường ca cải lương” và âm thầm bắt tay vào viết những trường ca chuyển thể từ tác phẩm Cung oán ngâm khúc (Nguyễn Gia Thiều), Bút quan hoài (Á Nam Trần Tuấn Khải)… Hiện tác phẩm chuyển thể Kinh Pháp Cú thành trường ca cải lương của bà với nhiều bài bản dễ nhớ, dễ hát, dễ thuộc đã được tái bản nhiều lần qua hình thức VCD, được khán giả đón nhận và khen ngợi… [2]

Năm 2012, bà được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân ở lần xét duyệt thứ 7 (năm 2011).

Những người bà có dịp ca diễn chung: Thanh Sang, Bảo Quốc, Ngọc Giàu, Thanh Tuấn, Lệ Thủy, Diệp Lang, Minh Phụng, Hùng Cường, Út Bạch Lan, Thái Châu, Tấn Tài, Út Trà Ôn,...

Những vai diễn[sửa | sửa mã nguồn]

  • Thái hậu Dương Vân Nga (vai Thái hậu Dương Vân Nga)
  • Lá thắm chỉ hồng (vai Lệ Chi)
  • Đoạn tuyệt (vai Loan)
  • Mưa rừng (vai Tuyền)
  • Hoa Mộc Lan tùng chinh (vai Hoa Mộc Lan)
  • Đời cô Lựu (vai cô Lựu)
  • Nửa đời hương phấn (vai Diệu)
  • Tuyệt tình ca (vai Lê Trường An)
  • Tần Nương Thất (vai Tần nương)
  • Lý Chiêu Hoàng (vai Lý Chiêu Hoàng)
  • Thượng hoàng Trần Nhân Tông (vai An Tư)
  • Lục Vân Tiên (vai Kiều Nguyệt Nga)
  • Nguyệt Khuyết (vai bà Xinh)
  • Tóc mai sợi vắn (vai bà Hạnh)

CD, băng nhạc[sửa | sửa mã nguồn]

  • Kim Vân Kiều
  • Kinh Pháp Cú
  • Đức Phật Thích ca
  • Kiều Nguyệt Nga
  • Đời cô Lựu
  • Thái hậu Dương Vân Nga
  • Mùa thu lá bay

Các bài tân cổ giao duyên, vọng cổ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Tình ca đất phương Nam
  • Núm ruột quê hương
  • Tình sầu
  • 24 giờ phép
  • Tình ca quê hương
  • Đau xót lý chim quyên (Tân nhạc: Vũ Đức Sao Biển)
  • Lối mộng thiền xưa
  • Thương màu áo lam
  • Miền nhớ
  • Chuyến tàu hoàng hôn (Tân nhạc: Hoài Linh, Minh Kỳ)
  • Bạch Thu Hà (Tác giả: Viễn Châu)
  • Bông hồng cài áo
  • Thêu áo như lai
  • Dương Quý Phi (Tác giả: Viễn Châu)
  • Đêm Gành hào nghe điệu hoài lang (Nhạc: Vũ Đức Sao Biển)
  • Dạ cổ hoài lang (Tác giả: Cao Văn Lầu)

Bài tân nhạc do bà viết lời vọng cổ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bông hồng cài áo
  • Thêu áo như lai
  • Thương màu áo lam
  • Miền nhớ
  • Tình ca đất phương Nam
  • Chuyến tàu hoàng hôn
  • Mưa nửa đêm
  • Tình ca quê hương
  • Chuyến tàu hoàng hôn
  • Đau xót lý chim quyên
  • Trăng về thôn dã
  • ...

Những phim tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Đời tư[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bà từng tìm cách quyên sinh 3 lần nhưng bất thành.
  • Bà từng quy y Tam bảo Phật giáo với pháp danh Diệu Lộc.
  • Bà kết hôn lần đầu tiên với danh thủ bóng đá Phạm Huỳnh Tam Lang năm 1967. Cuộc hôn nhân tan vỡ năm 1974 vì lý do riêng tư. Hai người không có con chung. Cho đến mãi về sau này 2 người đều dành cho nhau những lời tốt đẹp.
  • Sau khi ly dị, cũng ngay trong năm 1974, bà lập gia đình lần thứ 2 với ông Charles Đức, một Việt kiều quốc tịch Pháp. Ông bà có với nhau 1 người con trai tên Bảo Giang Valery Bauduin, hiện đang công tác ở Mỹ.

Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]