Thanh Ngân

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Bước tới điều hướng Bước tới tìm kiếm
Nghệ sĩ nhân dân
Emojione1 1F3AD.svg
Thanh Ngân
Nghệ danhThanh Ngân
Thông tin cá nhân
SinhNguyễn Thị Ngà
24 tháng 12, 1972 (47 tuổi)
Tiền Giang
Quốc tịch Việt Nam
Lĩnh vựcCải lương, dân ca

Thanh Ngânnghệ sĩ cải lương, dân ca. Ngày 29/8/2019, cô vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân năm đợt IX – 2019 cùng với các nghệ sĩ cải lương gạo cội: Thanh Tuấn, Minh Vương, Thoại Miêu, Thanh Nam, Giang Châu,...

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Cô là con gái út của nghệ sĩ Hoài Châu – Kim Hoa, thuộc về thế hệ thứ tư trong đại gia đình nghệ sĩ tài danh có 4 đời theo nghề hát từ thập niên 1930 đến nay: Ông Hai Núi, bầu gánh hát Tân Hí Ban, thuộc trường phái kiếm hiệp Mộng Vân, ông Hai Núi là ông cố ngoại của nữ nghệ sĩ Thanh Hằng và Thanh Ngân. Các diễn viên Hề Tỵ, Ba Tẹt là ông cậu, nữ diễn viên tiền phong Tư Hélène là bà ngoại, kép chánh Hai Long là ông ngoại của Thanh Ngân. Gia đình của Thanh Ngân có bốn người con gái tài sắc đều là diễn viên sân khấu: Thanh Hằng, Ngân Quỳnh, Thanh Ngọc, Thanh Ngân.

Ngay từ khi lên 3 tuổi, dù ngọng líu, ngọng lô nhưng cô bé đã bập bẹ bắt chước bà và mẹ trong những lúc mọi người tập tuồng. Thông minh, lanh lợi, nên bé Ngân học lóm rất nhanh. Có một dịp, Ngân được theo bà ngoại sang nhà Phùng Há chơi, khi nghe bà kêu biểu diễn thử, bé đã không ngần ngại, mạnh dạn chạy ra giữa nhà vừa ca cải lương vừa làm những điệu bộ minh họa, mọi người khi đó không ai nhịn được cười và ai cũng thầm nghĩ rằng sau này Ngân sẽ là một nghệ sĩ cải lương có tài.

Lớn lên trong niềm đam mê sân khấu, ước mình sẽ trở thành một nghệ sĩ tài danh được nhiều người yêu mến, nhưng bên cạnh niềm đam mê lớn lao đó, Thanh Ngân còn ấp ủ cho mình một ước mơ khác: sẽ trở thành một Luật sư giỏi, đem công bằng đến cho mọi người, cho xã hội. Chính vì thế mà Thanh Ngân rất chăm học và năm nào cô cũng đạt danh hiệu học sinh khá, giỏi của lớp.

Từ lúc còn ấu thơ, Thanh Ngân đã theo cha mẹ (nghệ sĩ Hoài Châu và Kim Hoa) lưu diễn qua các đoàn hát Tiền Giang, đoàn Hậu Giang, đoàn Cà Mau, đoàn sông Hương (Huế), đoàn Sàigon 1, đoàn Trần Hữu Trang, đoàn Minh Tơ, đoàn Huỳnh Long.

Thanh Ngân lớn dần theo dấu chân lăn lộn của cô qua các gánh hát từ miền Tây, miền Ðông tới các tỉnh miền Trung, miền Bắc, cho tới khi Thanh Ngân được về nhà hát Trần Hữu Trang thì Thanh Ngân đã là một nghệ sĩ khá vững tay nghề, giọng ca điêu luyện, ngọt ngào và lối diễn xuất đã đạt được những chuẩn mực trong nghề hát.

Thanh Ngân bắt đầu đến với sân khấu cải lương khi cô vừa tròn 18 tuổi. Theo các đoàn hát như Hương Tràm, Hương Bưởi, Minh Tơ... đi diễn khắp các tỉnh, khó khăn, vất vả trăm bề đối với một cô gái nhỏ nhắn, yếu ớt như Ngân. Nhưng cũng chính từ đó Thanh Ngân mới thấy rằng cô không thể dứt "cái nghiệp" này ra được và thấy mình cần phải phấn đấu hơn nữa để khẳng định tài năng của mình. Có những lúc quá khó khăn, cô cảm thấy bi quan, chán nản nhưng rồi ý chí sắt đá đã giúp Thanh Ngân vượt qua tất cả để có ngày hôm nay.

Nữ Nghệ Sĩ Nhân Dân Thanh Ngân thuộc về loại đào đẹp, thật khó mà cầm lòng trước nét tươi tắn duyên dáng kỳ lạ trong nụ cười của Thanh Ngân. Thanh Ngân được khán giả cho là hậu duệ của Thanh Nga. Thanh Ngân có một mái tóc dài đen tuyền như mái tóc của Thanh Nga ngày xưa, nét mặt xinh đẹp một cách thanh tú, nước da trắng hồng, đôi mắt long lanh gợi cảm, miệng cười có đôi má núng đồng tiền, Thanh Ngân toát lên được vẻ nữ tính diụ dàng khả ái trong dáng đi, điệu đứng, từ trong giọng nói tiếng cười, cô gái tuyệt sắc Thanh Ngân thành công dễ dàng khi cô xuất hiện lần đầu trên sân khấu.

Thanh Ngân hôm nay là ngôi sao sáng trên vườn trời cổ nhạc. Nhưng Thanh Ngân lúc nào cũng ví mình như vì sao nhỏ trong muôn ngàn vì sao khác. Thanh Ngân luôn luôn cố gắng trao dồi và học hỏi thêm nghệ thuật cải lương; với niềm hy vọng góp một phần nào đó để có thể bảo tồn nền văn hóa nghệ thuật dân tộc cho những thế hệ sau.

Những vở cải lương đã tham gia[sửa | sửa mã nguồn]

Các bài tân cổ, vọng cổ & dân ca[sửa | sửa mã nguồn]

  • Dạ cổ hoài lang (Nguyên tác: Cao Văn Lầu)
  • Điệu buồn phương Nam (Tân nhạc: Vũ Đức Sao Biển; cổ nhạc: Anh Kiệt)
  • Duyên phận (Tác giả: Thái Thịnh)
  • Về miền Tây
  • Thành tâm sám hối (Tác giả: Thanh Vân)
  • Chợ Mới (Tác giả: Trọng Nguyễn)
  • Gõ cửa trái tim (Sáng tác: Vinh Sử)
  • Miền Tây quê tôi (Sáng tác: Cao Minh Thu)
  • Thiên duyên tiền định
  • Thím hai lúa

Giải thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

  • 1996 : Giải Trần Hữu Trang, vai Võ Thị Sáu trong vở ”Người con gái đất đỏ”.
  • 2000 : Giải Mai vàng báo Người lao động, vai Trang trong vở ”Trà hoa nữ”.
  • 2002 : Giải Mai vàng báo Người lao động, vai Lan trong vở ”Lan và Điệp”.
  • 2004 : Top 5 Giải Diễn Viên Tài Sắc báo Sân Khấu tổ chức.
  • 2005 : HCV Hội diễn SK chuyên nghiệp toàn quốc, vai Lượm vở “Cung đàn nào cho em”.
  • 2006 : cô vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ Sĩ Ưu Tú.
  • 2009 : Huy chương vàng Hội diễn SK chuyên nghiệp toàn quốc, vai Tâm vở “ Cổ tích thời hiện đại”; Cúp vàng – giải thưởng HTV Awards, giải Nghệ sĩ cải lương được yêu thích nhất năm 2009.
  • 2010 : Cúp vàng – giải thưởng HTV Awards, giải Nghệ sĩ cải lương được yêu thích nhất năm 2010.
  • 2015 : Huy Chương Vàng Hội diễn SK chuyên nghiệp toàn quốc và giải nữ Diễn viên xuất sắc nhất hội thi.
  • 2019: cô vinh dự được Nhà nước phong tặng danh hiệu Nghệ Sĩ Nhân Dân.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]