Văn Hóa, Tuyên Hóa

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Văn Hóa
Địa lý
Tọa độ: 17°45′52″B 106°16′1″Đ / 17,76444°B 106,26694°Đ / 17.76444; 106.26694Tọa độ: 17°45′52″B 106°16′1″Đ / 17,76444°B 106,26694°Đ / 17.76444; 106.26694
Diện tích 25,17 km²[1]
Dân số (1999)  
 Tổng cộng 3488 người[1]
 Mật độ 139 người/km²
Hành chính
Quốc gia Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Việt Nam
Tỉnh Quảng Bình
Huyện Tuyên Hóa
Mã hành chính 19006[1]

Văn Hóa là một thuộc huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình, Việt Nam.

Địa lý hành chính[sửa | sửa mã nguồn]

Xã Văn hóa có diện tích 25,17 km², dân số năm 1999 là 3488 người,[1] mật độ dân số đạt 139 người/km². Phía Bắc giáp sông Gianh, phía Nam giáp xã Quảng Sơn (Thị xã Ba Đồn) và xã Cao Quảng (huyện tuyên Hóa), phía Tây giáp xã Châu Hóa, phía Đông giáp xã Quảng Tiên (Thị xã Ba Đồn).

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Theo các tài liệu ghi, vùng đất Lệ Sơn-Văn Hóa (Tuyên Hóa) đã nổi danh từ hàng trăm năm trước và được mệnh danh là “Đệ nhất bát danh hương” trong tám ngôi làng nổi tiếng văn vật của Quảng Bình: Sơn - Hà - Cảnh - Thổ - Văn - Võ - Cổ - Kim (Lệ Sơn, La Hà, Cảnh Dương, Thổ Ngọa, Văn La, Võ Xá, Cổ Hiền, Kim Nại).

Năm 1471, tướng quân Lê Văn Hành hộ tống vua Lê Thánh Tông dẹp loạn Chiêm Thành khi đi qua đây đã trầm trồ, khen ngợi địa thế phong thủy rất đẹp của vùng đất. Văn Hóa nằm tựa lưng vào 99 ngọn núi, nhìn sang phía sông Gianh có Lèn Rồng, nhìn lên hướng đông nam có dãy núi Lèn Bảng, quay sang hướng tây bắc có lèn Bạch Mã, trước mặt có dòng sông Gianh uốn mình ôm lấy làng như cánh võng.

Khi dẹp xong giặc, ông xin vua Lê cho gia đình cùng đinh tráng của 8 họ vào khai khẩn 800 mẫu ruộng để lập ấp, đó là sơ khai của làng. Sau đó, đích thân Lê Văn Hành ra Nghệ An mời thầy đồ Trần Cảnh Huống vào mở trường dạy học, mở mang dân trí, đặt nền móng vững chắc cho đạo học của làng.[2]

Văn hóa - Giáo dục[sửa | sửa mã nguồn]

Trải qua 10 thế kỷ, dưới các triều đại phong kiến Việt Nam, khoa cử đã góp phần thể hiện chính sách tuyển chọn và sử dụng nhân tài. Sự hùng mạnh của một triều đại cũng tùy thuộc vào chính sách dùng người. Tính từ đời Lý Nhân Tông, khoa thi đầu tiên được tổ chức vào năm Ất Mão (1075) và đến khoa thi cuối cùng vào năm Kỷ Mùi (1919). Lịch sử khoa cử đã để lại cho chúng ta niềm tự hào về những lớp ông nghè, ông cống thuở xưa. Trong môi trường lịch sử văn hóa của Việt Nam thời phong kiến, việc học hành, thi cử gắn liền với đường hướng tiến thủ của những người đã bước chân vào cửa Khổng sân Trình, chỉ có khoa danh là con đường chính đáng, tạo cơ hội cho người có tài năng, hoài bão vươn lên thực hiện lý tưởng của danh phận. Và đây cũng là lý do để các thế hệ không ngừng trau dồi kiến thức hoàn thiện chính mình trong xã hội đương đại. Chính vì vậy mà Đại học sĩ Thân Nhân Trung cho rằng: " Đó chính là phép lớn để rèn dũa người đời và là điều rất may cho Nho học. Thần tuy vụng về nông cạn, đâu dám chối từ. Kính cẩn cúi rập đầu mà ghi rằng:Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh mà hưng thịnh, nguyên khí suy thì thế nước yếu mà thấp hèn. Vì thế các bậc đế vương thánh minh không đời nào không coi việc giáo dục nhân tài, kén chọn kẻ sĩ, vun trồng nguyên khí quốc gia làm công việc cần thiết". Trong khi biên soạn cuốn Quảng Bình Đăng Khoa Lục, nhóm biên soạn chúng tôi thấy các vị quan khoa của làng Lệ Sơn đỗ đạt khá nhiều, nên kính cẩn thống kê lại theo nguyên tác mộc bản Duy Tân năm thứ ba để độc giả tự hào thêm về các bậc tiên sinh của quê hương mình. Chúng tôi căn cứ vào nguồn tư liệu chính là mộc bản đời Duy Tân tam niên ghi chép Quảng Bình khoa lục để biên soạn danh sách người đỗ. Ngoài ra, chúng tôi còn căn cứ vào nguồn tư liệu khác như Trạng nguyên – Tiến sĩ – Hương cống Việt Nam để bổ sung những người còn thiếu ở thời trước mà Quảng Bình khoa lục không ghi. Thống kê được sắp xếp theo thứ tự ABC.[3]

1. NGUYỄN THẾ AN

Nguyễn Thế An người xã Lệ Sơn Thượng, huyện Minh Chánh (nay là huyện Tuyên Hóa) thi Hương đậu Cử nhân khoa Quý Mão niên hiệu Thiệu Trị 3 (1843) đời Nguyễn Hiển Tổ do Hình bộ Tham tri Phạm Duy Trinh làm chủ khảo, Hàn lâm viện Trực học sĩ Đỗ Quang làm Phó chủ khảo. Làm quan đến chức Tri phủ.

2. LÊ BÍNH

Lê Bính người xã Lệ Sơn, huyện Tuyên Chánh (nay là huyện Tuyên Hóa). Năm 25 tuổi thi Hương tại trường Bình Định đậu Cử nhân khoa Nhâm Tý niên hiệu Duy Tân 6 (1912) đời Nguyễn Duy Tân (Vĩnh San). Làm quan đến chức Đốc học.

Theo Trạng nguyên, Tiến sĩ, Hương cống Việt Nam

3. LƯƠNG DUY CHÍ

Lương Duy Chí người xã Lệ Sơn Thượng, huyện Minh Chánh (nay là huyện Tuyên Hóa), thi Hương đậu Cử nhân giải Á nguyên khoa Mậu Ngọ niên hiệu Tự Đức 11 (1858) đời Nguyễn Dực Tông do Tổng đốc Bình Phú Phạm Quý làm Chủ khảo, Tham biện các vụ Phạm Thanh làm Phó chủ khảo. Ông làm quan đến chức Tri phủ rồi về hưu.

4. LÊ HUY CÔN

Lê Huy Côn người xã Lệ Sơn Thượng, huyện Minh Chánh (nay là huyện Tuyên Hóa) thi Hương đậu Hương cống giải Á nguyên khoa Ất Dậu niên hiệu Minh Mệnh 6 (1825) đời Nguyễn Thánh Tổ do Công bộ Thượng thư Nguyễn Xuân Thục làm Đề điệu, Lễ bộ Tham tri Phan Huy Thực làm Giáp thí, Lại bộ Thiêm sự Đặng Văn Nguyên và Công bộ Thiêm sự Phạm Quang Nguyên làm Giám khảo. Ông làm quan đến chức Võ khố Giám lâm. Cha con đăng khoa (là cha của Huy Tuân).

Tác phẩm:

Có văn trong Lập Trai văn sách.

5. LÊ DUY DI

Lê Duy Di người xã Lệ Sơn Thượng, huyện Minh Chánh (nay là huyện Tuyên Hóa) thi Hương đậu Cử nhân khoa Đinh Dậu niên hiệu Minh Mệnh 18 (1837) đời Nguyễn Thánh Tổ do Lại bộ Tham tri Hà Quyền làm Chủ khảo, Lại bộ Biện lý Phan Thanh Giản làm Phó chủ khảo. Làm quan đến chức Tuần phủ. Ông bình sinh đã dị cư, làm quan lập nhiều thành quả, gia phong thanh bạch.

6. LÊ TƯ DUỆ

Lê Tư Duệ người xã Lệ Sơn Thượng, huyện Minh Chánh (nay là huyện Tuyên Hóa) thi Hương đậu Cử nhân khoa Mậu Tý niên hiệu Minh Mệnh 9 (1828) đời Nguyễn Thánh Tổ do Công bộ Tham tri Lương Tiến Tường làm Chủ khảo, Lại bộ Thị lang Phan Bá Đạt làm Phó chủ khảo. Làm quan đến chức Bố chánh.

7. LÊ HUỆ

Lê Huệ người xã Lệ Sơn Thượng, huyện Bình Chánh (nay là huyện Tuyên Hóa) thi Hương đậu Hương cống khoa Kỷ Mão niên hiệu Gia Long 18 (1919) đời Nguyễn Thế Tổ do Lại bộ Thượng thư Nguyễn Hữu Thận làm đề điệu, Cai Bạ Bình Định Vũ Xuân Cẩn làm Giám thí; Lễ bộ Thiêm sự Nguyễn Đăng Tuân làm Giám khảo. Làm quan đến chức Tri huyện huyện Thụy Anh. Sau vì việc đến xã Trà Hồi đốc thuế không may gặp bọn cướp bị chúng bao vây, do binh ít không chống cự nổi nên bị chúng bắt được, vì bất khuất nên bị giết, tặng phong là Đồng tri phủ. Sau khi mất được dân xã lập đền thờ và thường rất linh ứng.

8. NGUYỄN KHUÊ

Nguyễn Khuê (cải Nguyễn Chinh) người xã Lệ Sơn Thượng, huyện Minh Chánh (nay là huyện Tuyên Hóa) thi Hương đậu Cử nhân khoa Giáp Ngọ niên hiệu Minh Mệnh 15 (1834) đời Nguyễn Thánh Tổ do Lại bộ Thượng thư Nguyễn Kim Bảng làm Chủ khảo, Bố chính Bình Định Phạm Thế Lịch làm Phó chủ khảo. Làm quan đến chức Tri phủ rồi nghỉ.

9. LƯƠNG NHỤY

Lương Nhụy (Nhị) người xã Lệ Sơn Thượng, huyện Minh Chánh (nay là huyện Tuyên Hóa), thi Hương đậu Cử nhân đạt giải Á nguyên khoa Nhâm Ngọ niên hiệu Tự Đức 35 (1882) đời Nguyễn Dực Tông do Tuần phủ Thuận Khánh Lê Liêm làm Chủ khảo, Lại quán Soán tu Nguyễn Đức Kỳ làm Phó chủ khảo. Làm quan đến chức Đốc học của bản tỉnh rồi về quê.

10. NGUYỄN DUY TÂN

Nguyễn Duy Tân người xã Lệ Sơn Thượng, huyện Minh Chánh (nay là huyện Tuyên Hóa) thi Hương đậu Cử nhân Ân khoa Nhâm Dần niên hiệu Thiệu Trị 2 (1842) đời Nguyễn Hiến Tổ (Miên Tông) do Hộ bộ Tham tri Đào Trí Phú làm Chủ khảo, Lại quán Soán tu Tô Trân làm Phó chủ khảo. Làm quan đến chức Phó quản đạo, bị bãi miễn rồi lại được phục làm Huấn đạo.

11. LÊ TẬP

Lê Tập người xã Lệ Sơn Thượng, huyện Minh Chánh (nay là huyện Tuyên Hóa) thi Hương đậu Cử nhân giải Nguyên khoa Mậu Tý niên hiệu Minh Mệnh 9 (1828) đời Nguyễn Thánh Tổ do Công bộ Tham tri Lương Tiến Tường làm Chủ khảo, Lại bộ Thị lang Phan Bá Đạt làm Phó chủ khảo. Làm quan đến chức Án sát Quảng Nam.

12. LÊ HUY TUÂN

Lê Huy Tuân người xã Lệ Sơn Thượng, huyện Minh Chánh (nay là huyện Tuyên Hóa), thi Hương đậu Cử nhân khoa Đinh Mùi niên hiệu Thiệu Trị 7 (1847) đời Nguyễn Hiến Tổ (Miên Tông) do Lễ bộ Tham tri Đỗ Quang làm chủ khảo, Hộ bộ Thị lang Trương Hảo Hợp làm Phó chủ khảo. Làm quan đến chức Án sát Thanh Hóa rồi bị giáng, điều làm việc khác. Cha con đăng khoa (là con của Huy Côn).

Danh thắng[sửa | sửa mã nguồn]

Món ngon[sửa | sửa mã nguồn]

Chắt chắt - Đặc sản Sông Gianh[4][sửa | sửa mã nguồn]

Khúc sông Gianh chạy qua xã Phù Hoá, Quảng Trạch, Quảng Bình dài chừng bốn cây số. Đây là vùng giao thoa giữa nước lợ và nước ngọt. Vùng giao thoa này sinh ra một loài hến bé nhỏ, dân gian gọi là chắt chắt.

Hằng năm, vào cuối tháng Hai đầu tháng Ba âm lịch, sau một cơn mưa giông, nước ngọt đầu nguồn sông đổ về đây, gặp làn nước lợ từ dưới cửa biển dâng lên. Khí trời se lạnh, không gian khoáng đạt, hai làn nước trai tráng và nữ nhi ấy chảy oà vào nhau, tan trong nhau, nồng nhiệt trong nhau như một cuộc hoan lạc vĩ đại của sông nước, để rồi sinh ra hàng triệu hàng triệu triệu con chắt chắt nhỏ li ti.

Chuyện ấy kể như huyền thoại nhưng là cách để người dân Phù Hoá giải thích về sự ra đời của nghề xúc chắt chắt làng mình.

Người dân Phù Hoá còn nghèo lắm và nghề cào chắt chắt như một "cứu cánh". Mùa chắt chắt nhiều nhất là từ tháng Ba đến tháng Tám, nay người Phù Hoá tận dụng cào đến cả tháng 10, 11 âm lịch. Sang mùa giá rét, chắt chắt càng ít đi, hơn nữa mùa này có cào được cũng ít người ăn. Làm nghề này, người ta chỉ sắm chiếc cào, đến mùa trầm mình xuống bờ cát ven sông xúc chắt chắt lẫn trong cát, rồi sàng cát xuống sông, lọc chắt chắt bỏ vào bao mang theo.

Người cào giỏi, ngày kiếm được vài chục lon, đem bán được vài chục ngàn đồng, vậy mà tất cả chi tiêu của gia đình đều từ đó mà ra. Bởi vậy, ở Phù Hoá có gia đình đi cào đủ cả cha mẹ, con cái để kiếm được nhiều chắt chắt, mong đắp đổi hàng ngày. Nhưng cũng thật lạ! Làng Phù Hoá từ xưa đến nay lại được xem là đất học của tỉnh Quảng Bình.

Làng là nơi sinh ra danh nhân văn hoá Nguyễn Hàm Ninh, thầy dạy học của Vua Tự Đức. Làng Phù Hoá bây giờ tính ra có hàng trăm người có học vị tiến sĩ, cử nhân... và hàng chục em vào đại học mỗi năm. Người già ở Phù Hoá thường cắt nghĩa: "Làm nghề này mới biết chịu thương chịu khó để nên người, biết đem cho người cái ngọt ngào còn nhận về mình cay đắng nhọc nhằn. Biết ăn, biết ở, trời cho lại".

Muốn ăn con chắt chắt cũng kỳ công lắm. Chắt chắt cào được đem xa (rửa) thật kỹ vài ba nước, để cho ráo rồi đun xoong nước thật sôi mới thả vào, bỏ ít muối hạt, dùng bó đũa đánh nhiều lần để gạt nhân sang xoong khác. Bị nước nóng, vỏ chắt chắt nở ra, mặt rời vỏ, nổi lên theo nước sang xoong khác. Cứ gạn qua gạn về cho hết mặt thì thôi. Nước chắt chắt sau khi nấu xong có thể làm canh chan ăn ngay với cơm, thêm chút muối ớt, gừng, cảm giác ngọt lịm.

Chắt chắt còn được xào với mít non lá lốt. Xưa nay, món này dành cho người nghèo. Mít non gọt vỏ, băm nhỏ, thêm một ít lá lốt thái mịn trộn đều xào với chắt chắt. Món này bây giờ được bán ở quán nhậu cũng "hút" khách đáo để vì nó được được dân nhậu phong là "đệ nhất dinh dưỡng" và "đệ nhất sạch"...

Người thích ăn kiểu thông thường thì có thêm ít rau muống hay rau tập tàng thái nhỏ đun vừa chín tới, chan với cơm hoặc bắp rang để ăn. Còn nhân chắt chắt nếu ăn bình thường thì đổ lẫn canh, nếu muốn làm món nhậu thì vớt ra cho vào chảo, bỏ ít dầu, gia vị xào lên, đem xúc bánh tráng, cam đoan ăn mệt nghỉ, còn ăn được chừng nào thì còn thèm chừng ấy. Món này hiện được các quán nhậu bình dân khai thác làm đồ nhậu vừa rẻ, vừa hút thực khách.

Lấy bánh đa xúc vào dĩa chắt chắt, dùng đũa gắp một ngọn rau thơm để lên trên và đưa vào miệng. Từ từ nhai để tận hưởng cái giòn tan của bánh đa, cái hương thơm đượm vị phù sa của vừng, cái ngầy ngậy của chắt chắt, trong một chút cay của ớt, một chút chua của cà, một chút nồng của tiêu, một chút thơm của hành... Và cảm giác như vũ trụ đã hội đủ trong vòm họng...


Chú thích[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]