Vườn quốc gia hang Mammoth

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Vườn quốc gia hang Mammoth
Lwt02830.jpg
Gian Rotunda trong hang Mammoth
Bản đồ hiển thị vị trí của Vườn quốc gia hang Mammoth
Bản đồ hiển thị vị trí của Vườn quốc gia hang Mammoth
Vị tríEdmonson, Hart, và Barren, Kentucky, Hoa Kỳ
Thành phố gần nhấtBrownsville
Tọa độ37°11′13″B 86°06′4″T / 37,18694°B 86,10111°T / 37.18694; -86.10111Tọa độ: 37°11′13″B 86°06′4″T / 37,18694°B 86,10111°T / 37.18694; -86.10111
Diện tích52.830 mẫu Anh (213,8 km2)[1]
Thành lập1 tháng 7 năm 1941
Lượng khách533.206 (năm 2018)[2]
Cơ quan quản lýCục Công viên Quốc gia Hoa Kỳ
Trang webTrang web chính thức Sửa đổi này tại Wikidata
Di sản thế giới của UNESCO
Tiêu chíThiên nhiên: vii, viii, x
Tham khảo150
Năm công nhận1981 (Kỳ họp 5)

Vườn quốc gia hang Mammothvườn quốc gia nằm ở trung tâm tiểu bang Kentucky của Hoa Kỳ. Nó bao gồm các phần của hang Mammoth, được biết đến là hệ thống hang động dài nhất trên thế giới. Tên gọi chính thức của hệ thống này là Hệ thống hang động mạch núi Mammoth-Flint (Mammoth-Flint Ridge Cave System) do có những mạch núi hình thành bên dưới hang. Nó được thành lập như là vườn quốc gia vào ngày 1 tháng 7 năm 1941 được UNESCO công nhân là Di sản thế giới vào ngày 27 tháng 10 năm 1981, và khu dự trữ sinh quyển thế giới từ ngày 26 tháng 9 năm 1990.

Vườn quốc gia có diện tích 52,830 mẫu Anh (21,380 ha) chủ yếu nằm ở quận Edmonson, và cac skhu vực nhỏ mở rộng về phía đông sang các quận Hart, và Barren. Sông Green chảy qua vườn quốc gia, với một chi lưu là sông Nolin đổ vào sông Green ngay bên trong vườn quốc gia. Đây là hệ thống hang dài nhất thế giới với 400 dặm (640 km) đã được khảo sát,[3][4] dài gấp đôi hệ thống hang động dài thứ hai là hệ thống hang động ngầm dưới nước Sistema Sac Actun.[5]

Lịch sử[sửa | sửa mã nguồn]

Câu chuyện về loài người có liên quan đến hang Mammoth kéo dài sáu nghìn năm. Một số bộ hài cốt của người Mỹ bản địa đã được khải quật tại đây cùng nhiều hang động khác trong khu vực gần đó vào thế kỷ 19 và 20. Hầu hết các xác ướp là quá trình chôn cất có chủ ý với nhiều bằng chứng về nghi thức tang lễ thời kỳ tiền Colombo.

Một ngoại lệ đối với việc chôn cất có chủ đích đã được phát hiện vào năm 1935, hài cốt của một người đàn ông trưởng thành được phát hiện dưới một tảng đá lớn. Tảng đá đã đè lên nạn nhân, một người khai thác thời kỳ tiền Colombo. Phần còn lại của nạn nhân được đặt tên là "Lost John" và được trưng bày cho công chúng vào những năm 1970, trước khi được chôn cất tại một địa điểm bí mật trong hang Mammoth vì lý do bảo tồn cũng như sự nhạy cảm chính trị mới nổi đối với việc công khai về người bản xứ Mỹ.

Sinh thái học[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là nơi sinh sống của loài Dơi trong hang động gồm Dơi Indiana, Dơi xám, Dơi nâu nhỏ, Dơi nâu lớn, Dơi ba màu và cả loài Dơi chân nhỏ phía Đông quý hiếm đã từng có 9–12 triệu con trong quá khứ nhưng giờ chỉ còn không quá vài nghìn con.

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ “Listing of acreage as of December 31, 2011”. Land Resource Division, National Park Service. Truy cập tháng 3 ngày 7, 2012.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  2. ^ “NPS Annual Recreation Visits Report”. Cục Công viên Quốc gia Hoa Kỳ. Truy cập tháng 3 ngày 8, 2019.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |accessdate= (trợ giúp)
  3. ^ “A Grand, Gloomy and Peculiar Place”. nps.gov. National Park Service. 22 tháng 5 năm 2018. Truy cập ngày 29 tháng 5 năm 2018. 
  4. ^ Vickie Carson (tháng 2 ngày 15, 2013). “Mammoth Cave hits 400 miles”. National Park Service (NPS). Truy cập tháng 2 ngày 18, 2013.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)
  5. ^ Bob Gulden (tháng 1 ngày 7, 2018). “Worlds longest caves”. Geo2 Committee on Long and Deep Caves. National Speleological Society (NSS). Truy cập tháng 5 ngày 29, 2018.  Kiểm tra giá trị ngày tháng trong: |date=, |accessdate= (trợ giúp)

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo chung[sửa | sửa mã nguồn]

  • Bridwell, Margaret M. (Bridwell 1952) The Story of Mammoth Cave National Park Kentucky: A Brief History 11th Edition 1971. (First edition copyright 1952.) No ISBN.
  • Gulden, B. (Gulden 2005) NSS Geo2 USA Longest Caves. National Speleological Society. [1]
  • Hoskins, R. Taylor Faithful Visitor First Park Superintendent R. Taylor Hoskins describes the yearly visits of "Pete" a tame summer tanager (Piranga rubra rubra.) In "The Regional Review, Vol VII, 1 and 2 (July-August 1941.)
  • Hovey, Horace Carter (Hovey 1880) One Hundred Miles in Mammoth Cave in 1880: an early exploration of America's most famous cavern. with introductory note by William R. Jones. Golden, Colorado: Outbooks. (Copyright 1982) ISBN 0-89646-054-1
  • Watson, Richard A., ed. (Watson 1981) The Cave Research Foundation: Origins and the First Twelve Years 1957 - 1968 Mammoth Cave, Kentucky: Cave Research Foundation.

Sách của Brucker[sửa | sửa mã nguồn]

Roger W. Brucker [2] has co-authored four nonfiction books and authored one historical novel on the history and exploration of the Mammoth Cave System. They are presented here not in the order of publication, but in the order in which the events of the books' major narratives took place:

  • Brucker, Roger W. (2009) Grand, Gloomy, and Peculiar: Stephen Bishop at Mammoth Cave. Cave Books. ISBN 978-0-939748-72-3 (hbk) ISBN 978-0-939748-71-6 (pbk). Based on the true story of Stephen Bishop, the slave who gained fame as a guide and explorer at Mammoth Cave from 1838 until his death in 1857, this historical novel is written from the perspective of Bishop's wife, Charlotte. Although it is a novel, Brucker has claimed the book does not alter any known historical facts.
  • Brucker, Roger W. and Murray, Robert K. (Brucker and Murray 1983) Trapped: The Story of Floyd Collins. University of Kentucky Press. Told by a scholar of early 20th century journalism and a veteran of the modern period of Mammoth Cave exploration, this book details the events of the entrapment and attempted rescue of Floyd Collins, who was trapped in a cave near Mammoth Cave in January 1925.
  • Lawrence, Jr, Joe and Brucker, Roger W. (Lawrence and Brucker 1955) The Caves Beyond: The story of the Floyd Collins' Crystal Cave Expedition New York: Funk and Wagnell's. Reprinted, with new introduction, by Zephyrus Press ISBN 0-914264-18-4 (pbk.) Details the story of the 1954 week-long C3 expedition from the separate points of view of the leader and an ordinary participant in the expedition, who went on to become one of the leaders of the then-nascent modern period of exploration.
  • Brucker, Roger W. and Watson, Richard A. "Red" (Brucker and Watson 1976) The Longest Cave. New York: Knopf (reprinted 1987, with afterword: Carbondale, Illinois: Southern Illinois University Press) ISBN 0-8093-1322-7 (pbk.) A comprehensive story of the exploration of Mammoth Cave told by two of the founders of the Cave Research Foundation. An invaluable appendix, "Historical Beginnings", outlines the story of the cave from prehistory to the mid 1950s, where the main narrative begins. The formation of the Cave Research Foundation is described from an insider perspective. A highly personal telling, this work is sometimes jokingly or with irony referred to by cavers as Roger and Red Go Caving, though its revered status in the literature and the reputations of the authors are hardly in doubt. The 1989 reprint includes an Afterword by the authors referring to the 1983 Roppel-Mammoth connection and other subsequent events.
  • Borden, James D. and Brucker, Roger W. (Borden and Brucker 2000) Beyond Mammoth Cave: A Tale of Obsession in the World's Longest Cave. Carbondale and Edwardsville, Illinois: Southern Illinois University Press. ISBN 0-8093-2346-X. Taking up where The Longest Cave leaves off, carries the story of Mammoth Cave Exploration from ngày 10 tháng 9 năm 1972 to ngày 10 tháng 9 năm 1983, when a connection was surveyed between Roppel Cave and the southern reaches of Mammoth Cave. Details the origins of the Central Kentucky Karst Coalition (CKKC).

Khảo cổ[sửa | sửa mã nguồn]

  • Meloy, Harold (Meloy 1968) Mummies of Mammoth Cave: An account of the Indian mummies discovered in Short Cave, Salts Cave, and Mammoth Cave, Kentucky Shelbyville, Indiana: Micron Publishing Co., 1990 (Original copyright 1968, 1977).
  • Watson, Patty Jo (ed.) (Watson 1974) Archaeology of the Mammoth Cave Area. Reprinted 1997 by St. Louis: Cave Books ISBN 0-939748-41-X. 31 chapters by the foremost worker in the field of Mammoth Cave archaeology and several of her colleagues. The reprinted edition includes a brief new introduction and a brief updated bibliography.

Địa chất[sửa | sửa mã nguồn]

  • Brown, Richmond F. (Brown 1966). Hydrology of the Cavernous Limestones of the Mammoth Cave Area, Kentucky [Geological Survey Water-Supply Paper 1837]. Washington, D.C.: United States Government Printing Office.
  • Livesay, Ann, and McGrain, Preston (revised) (Livesay and McGrain 1962). Geology of the Mammoth Cave National Park Area. Kentucky Geological Survey, Series X, 1962. Special Publication 7, College of Arts and Sciences, University of Kentucky. Lexington, Kentucky: University of Kentucky.
  • Palmer, Arthur N. (Palmer 1981) A Geological Guide to Mammoth Cave National Park. Teaneck, New Jersey: Zephyrus Press. ISBN 0-914264-28-1. 196 pp. From the "blurb" on the back cover: "How did Mammoth Cave form? How old is it? Why does it look the way it does? What do the rocks tell us? These and many other questions are answered in this book about America's most popular cave." Written for the lay reader, but with much technical information of interest to those with greater scientific literacy, by a retired professor of geology at SUNY Oneonta.
  • White, William B. and Elizabeth L., eds. (White and White 1989) Karst Hydrology: Concepts from the Mammoth Cave Area. New York: Van Nostrand Rheinhold. ISBN 0-442-22675-6.

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]