Vườn treo Babylon

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Đây là bản khắc họa bằng tay, hầu như chắc chắn được làm vào thế kỷ 19 sau chuyến khai quật lần đầu tiên trong thủ đô Assyria, miêu tả truyện ngụ ngôn Vườn Treo với Tháp Babel nằm trong hình nền.

Vườn Treo Babylon là một trong Bảy kỳ quan cổ đại thế giới trong văn hóa Hy Lạp cổ đại, được miêu tả như một thành tựu phi thường về kỹ thuật xây dựng với một chuỗi vườn bậc thang bao gồm sự đa dạng của cây, bụi cây, và cây leo, giống với một ngọn núi xanh lớn được xây bởi gạch bùn. Truyện kể là nó được xây trong thành phố cổ đại Babylon gần thành phố Hillah vào thời nay, tỉnh Babylon trong Iraq. Tên của nó được lấy nguồn gốc từ chữ Hy Lạp kremastós (κρεμαστός có nghĩa là "treo"), nó có nghĩa rộng hơn so với chữ tiếng Anh hiện đại "hanging" và nói đến những cây được trồng trong một công trình treo hình bậc thang.[1][2][3]

Dựa vào một truyền thuyết, vườn treo được xây dựng kế bên một lâu đài rất lớn được biết đến với cái tên The Marvel of Mankind. Vua tân Babylon Nebuchadnezzar II (cai trị giữa năm 605 và 562 TCN) xây vườn treo đó cho vợ của ông ấy Hoàng hậu Amytis người Medes bởi vì bà ấy nhớ đồi xanh và thung lũng của quê hương bà ấy. Điều đó được chứng nhận bởi cha xứ Babylonia Berossus trong sách được viết vào khoảng 290 TCN, sau đó quyển sách này được trích dẫn bởi ông Josephus. Vườn treo được xây dựng do bà hoàng hậu truyền thuyết Semiramis, người được cho rằng cai trị Babylon vào thế kỷ thứ 9 TCN,[4] và vườn treo này còn được gọi là Vườn treo của Semiramis.[5]

Vườn treo là một trong Bảy kỳ quan thế giới mà vị trí của nó chưa được xác minh chắc chắn.[6] Không có sách Babylonian nào nhắc tới vườn treo này, và không có bằng chứng khảo cổ nào chắc chắn được tìm thấy tại Babylon.[7][8] Ba lý thuyết được đưa ra để giải thích cho vấn đề này. Một: chúng hoàn toàn là huyền thoại, và các ghi chép của các nhà sử học trong Hy Lạp và La Mã cổ đại như Strabo, Diodorus SiculusQuintus Curtius Rufus tượng trưng cho một lý tưởng lãng mạn của vườn Đông.[9] Hai: chúng tồn tại trong Babylon nhưng hoàn toàn bị phá hủy trong khoảng thời gian thế kỷ thứ nhất CN.[10][4] Ba: truyền thuyết đó nói đến một khu vườn treo được sử sách ghi chép mà vị vua Sennacherib của Assyria (704–681 BC) xây trong thủ đô Nineveh của ông trên con sông Tigris, gần thành phố hiện đại Mosul.[11][1]

Miêu tả[sửa | sửa mã nguồn]

Vườn treo của Semiramis bởi H. Waldeck

Hiện nay có năm tác giả chính viết về vườn treo. Những tác giả này viết về kích thước, thiết kế tổng quát, thủy lợi của vườn treo, và tại sao nó lại được xây. Josephus (khoảng 37–100 CN) trích dẫn thông tin của vườn treo từ Berossus, một cha xứ người Babylonian của Marduk,[6] được viết vào khoảng năm 290 TCN là sự đề cập sớm nhất của vườn treo.[5] Berossus viết về triều đại của Nebuchadnezzar II và là người duy nhất viết rằng vị vua này là người xây cái vườn treo.[12][13]

Bên trong lâu đài ông ấy xây những hàng rào cao lên, chống đỡ bởi tru cột đá; và tạo ra vườn treo thiên đàng và trang trí nó bằng nhiều loại cây khác nhau, từ đó tạo thành công trình giống với vùng núi. Đây là điều ông đã thực hiển để làm hài lòng vợ ông bởi vì cô ấy lớn lên ở Media và có tình cảm với núi non.[14]

Diodorus Siculus (60–30 TCN) dường như đã tham khảo sách của cả hai tác giả Cleitarchus (một nhà sử học của Alexander the Great) và Ctesias of Cnidus vào thế kỷ thứ 4 TCN. Diodorus cho là vườn treo được xây bởi một ông vua Syria. Ông ấy ghi là khu vườn có hình dạng như chiếc hình vuông, với mỗi bên dài xấp xỉ bốn plethron. Khu vườn được thiết kế như bậc thang, với tầng trên cùng là phòng trưng bày cao 50 cubit. Những bức tường, dày 22 feet, được xây bằng gạch. Các nền của khu vực bậc thang đủ sâu để rễ của các cây lớn nhất phát triển, và lấy nước từ con sông Euphrates để tưới cây cho khu vườn.[15] Quintus Curtius Rufus (Thế kỷ thứ nhất CN) được cho là đã lấy nguồn từ sách giống với ông Diodorus.[16] Ông cho rằng khu vườn nằm trên đỉnh của một cái thành, nó có chu vi hình tròn 20 stadion. Ông ấy cho rằng khu vườn được xây bởi một vị vua Syria,bởi vì vợ của ông nhớ quê nhà.

Tài liệu ghi chép của Strabo (64 TCN – 21 CN) có thể là dựa trên tài liệu đã mất của Onesicritus từ thế kỷ 4 TCN.[17] Ông cho rằng khu vườn được tưới cây bởi máy bơm nước Archimedes dẫn tới khu vườn treo từ sông Euphrates. Nguồn tài liệu cổ điển cuối cùng được cho rằng là độc lập so với các nguồn tài liệu khác, A Handbook to the Seven Wonders of the World bởi Philo của Byzantium (được viết vào thế kỷ thứ 4 đến thứ 5 CN; đừng nên nhầm lẫn với Philo của Byzantium, sống vào khoảng 280 TCN – 220 TCN).[18] Kỹ thuật nâng nước lên bằng máy bơm nước được miêu tả bởi Strabo.[19] Philo đã có lời khen về kỹ thuật xây dựng và sự tinh tế của công trình với khu vực rộng lớn và đất sâu, nằm ở trên cao so với những vùng đất xung quanh và kỹ thuật tưới nước.

Lịch sử tồn tại[sửa | sửa mã nguồn]

Đây là bản sao của nghệ thuật điêu khắc trên tường từ lâu đài phía Bắc của Ashurbanipal (669–631 TCN) tại Nineveh miêu tả khu vườn lộng lẫy được tới nước bằng một ống nước

Các nhà sử học không biết chắc vườn treo này có thật sự tồn tại hay chỉ là tác phẩm văn thơ do không có nguồn tài liệu Babylon đương thời nào nhắc đến vườn treo này. Cũng không có nguồn tài liệu nào nhắc đến bà vợ Amvitis của Nebuchadnezzar (hoặc bất cứ bà vợ nào khác), tuy nhiên những cuộc hôn nhân chính trị với người Media hoặc Ba Tư cũng khá phổ biến.[20] Có nhiều tài liệu ghi chép về thành tựu của ông Nebuchadnezzar tuy nhiên ghi chép của ông ấy hoàn toàn không nhắc tới khu vườn treo này.[21] Tuy nhiên, ghi chép về khu vườn treo này nói rằng nó vẫn tồn tại vào thời điểm tác giả thế hệ sau miêu tả về khu vườn, và một số ghi chép được cho rằng đã lấy nguồn từ những người đã ghé thăm Babylon.[2] Herodotus, người miêu tả Babylon trong cuốn sách Histories của ông ấy, không hề nhắc tới khu vườn treo,[22] Mặc dù khu vườn có thể chưa được phổ biến với người Hy Lạp tại thời điểm mà ông ghé thăm.[2]

Cho đến nay, không có bằng chứng khảo cổ nào về khu vườn treo được tìm thấy tại Babylon.[6] Bằng chứng khảo cổ có thể tồn tại ở dưới con sông Euphrates, nơi hiện tại không thể khai quật an toàn. Con sông chảy hướng đông vào thời vua Nebuchadnezzar II so với hiện tại, và rất ít được biết về phần phía Tây của Babylon.[23] Rollinger đưa ra giả thuyết rằng Berossus ghi chép khu vườn được xây bới Nebuchadnezzar với lý do chính trị, và ông ấy lấy truyền thuyết đó từ một nơi khác.[24]

Xem thêm[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă Stephanie Dalley (1993). “Ancient Mesopotamian Gardens and the Identification of the Hanging Gardens of Babylon Resolved”. Garden History 21: 7. JSTOR 1587050. 
  2. ^ a ă â Reade, Julian (2000). “Alexander the Great and the Hanging Gardens of Babylon”. Iraq 62: 195. ISSN 0021-0889. doi:10.2307/4200490. 
  3. ^ Foster, Karen Polinger (2004). “The Hanging Gardens of Nineveh”. Iraq 66: 207. ISSN 0021-0889. doi:10.2307/4200575. 
  4. ^ a ă “The Hanging Gardens of Babylon”. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  5. ^ a ă Cartwright M (tháng 7 năm 2018). “Hanging Gardens of Babylon”. Ancient History Encyclopedia. Truy cập ngày 15 tháng 9 năm 2018. 
  6. ^ a ă â Finkel (1988) p. 41.
  7. ^ Finkel (1988) p. 58.
  8. ^ Finkel, Irving; Seymour, Michael (2008). Babylon: City of Wonders. London: British Museum Press. tr. 52. ISBN 0-7141-1171-6. 
  9. ^ Finkel 2008
  10. ^ “The Hanging Gardens of Babylon”. Truy cập ngày 5 tháng 2 năm 2014. 
  11. ^ Dalley, Stephanie (2013). The Mystery of the Hanging Garden of Babylon: an elusive World Wonder traced. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-966226-5. 
  12. ^ Finkel (2008) p. 108.
  13. ^ Dalley, Stephanie (1994). “Nineveh, Babylon and the Hanging Gardens: Cuneiform and Classical Sources Reconciled”. Iraq 56: 45. ISSN 0021-0889. doi:10.2307/4200384. 
  14. ^ Joseph. contr. Appion. lib. 1. c. 19.—Syncel. Chron. 220.—Euseb. Præp. Evan. lib. 9.
  15. ^ Diodorus Siculus II.10-1-10
  16. ^ History of Alexander V.1.35-5
  17. ^ Strabo, Geography XVI.1.5, translation adapted from H.L. Jones, Loeb Classical Library edn (1961).
  18. ^ That is, Philo the Paradoxographer of Byzantium, not Philo the Engineer of Byzantium. See Stephanie Dalley, "More about the Hanging Gardens," in Of Pots and Pans: Papers on the Archaeology and History of Mesopotamia and Syria as presented to David Oates on his 75th Birthday, Edited by L. al-Gailani-Werr, J.E. Curtis, H. Martin, A. McMahon, J. Oates and J.E. Reade, (London), pp. 67–73 ISBN 1-897750-62-5.
  19. ^ Dalley (2013), p. 40. Dalley bases her translation on Brodersen (1992) who uses an early Greek text. A previous translation by David Oates, based on a Latin text, is found in Finkel (1988) pp. 45–46.
  20. ^ Finkel (2008) p. 109.
  21. ^ Dalley (2013)
  22. ^ Priestley, Jessica (2014). Herodotus and Hellenistic culture: Literary Studies in the Reception of the Histories. Oxford: Oxford University Press. tr. 91. 
  23. ^ Joan Oates, Babylon, Revised Edition, Thames and Hudson, London (1986) p. 144 ISBN 0500273847.
  24. ^ Rollinger, Robert "Berossos and the Monuments", ed. J Haubold et al, The World of Berossos, Wiesbaden (2013), p151

Liên kết ngoài[sửa | sửa mã nguồn]