Vạn Hải Phong

Bách khoa toàn thư mở Wikipedia
Buớc tưới chuyển hướng Bước tới tìm kiếm
Vạn Hải Phong
Wan Haifeng1955.jpg
Vạn Hải Phong năm 1955.
Chức vụ
Nhiệm kỳ – Tháng 4 năm 1990
Tiền nhiệmTừ Lập Thanh
Kế nhiệmCốc Thiện Khánh
Phó Chính ủy Quân khu Bắc Kinh
Nhiệm kỳ1975 – 1982
Phó Tư lệnh Quân khu Bắc Kinh
Nhiệm kỳ1972 – 1975
Thông tin chung
Danh hiệuHuân chương Bát Nhất
Huân chương Độc lập và Tự do
Huân chương Giải phóng
Sinh1920 (98–99 tuổi)
huyện Quang Sơn, tỉnh Hà Nam, Trung Hoa Dân Quốc
Nghề nghiệpSĩ quan quân đội
Đảng pháiĐảng Cộng sản Trung Quốc
Gia đìnhVạn Điền Nhuận
Tiêu thị
Con cái4
Học sinh trườngĐại học Quốc phòng PLA
Binh nghiệp
Phục vụ Trung Quốc
Thuộc Lục quân Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc
Năm tại ngũ1933 — 1998
Cấp bậcPLAGeneral r.png Thượng tướng
Chỉ huyQuân khu Bắc Kinh
Quân khu Thành Đô
Tham chiếnChiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai
Nội chiến Trung Quốc
Chiến tranh Triều Tiên

Vạn Hải Phong (sinh tháng 9 năm 1920) là sĩ quan quân đội người Trung Quốc. Tháng 9 năm 1988, ông được phong quân hàm Thượng tướng.

Vạn Hải Phong sinh ra ở huyện Quang Sơn, tỉnh Hà Nam. Ông tham gia Hồng quân khi mới 13 tuổi và gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc ở tuổi 17. Ông chiến đấu trong Chiến tranh Trung-Nhật lần thứ hai, Nội chiến Trung QuốcChiến tranh Triều Tiên.

Ông là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc khóa XII và Ủy viên Ủy ban Cố vấn Trung ương. Ông là đại biểu dự Đại hội đại biểu toàn quốc Đảng Cộng sản Trung Quốc lần thứ XIII. Ông là đại biểu Quốc hội khóa V và VII.

Tiểu sử[sửa | sửa mã nguồn]

Vạn Hải Phong tên thật là Mao Đầu sinh tháng 9 năm 1920 trong một gia đình có nền nông nghiệp tại huyện Quang Sơn, tỉnh Hà Nam. Ông là con thứ ba của Vạn Điền Nhuận và Tiêu thị. Vạn Hải Phong có hai chị. Mẹ của ông qua đời khi ông 3 tuổi.[1]

Ông là tiểu đội trưởng ở Quân đoàn 28 trong cuộc chiến tranh cách mạng quốc nội lần thứ hai (1927). Ông tham gia chiến tranh du kích Hồ Bắc-Hà Nam-An Huy.

Tháng 7 năm 1933, ông tham gia Hồng quân. Cấp trên của ông là Cao Kính Đình đặt tên ông là Vạn Hải Phong.[2] Năm 1935, ông gia nhập Đoàn Thanh niên Cộng sản Trung Quốc. Tháng 10 năm 1937, ông gia nhập Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Năm 1949, ông tham gia Trận Mạnh Lương Cố, Chiến dịch Hoài HảiChiến dịch Độ Giang do Lưu Bá ThừaĐặng Tiểu Bình lãnh đạo ở miền Đông Trung Quốc.

Năm 1952, sau khi Chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, chính phủ Trung Quốc ủy nhiệm ông là Phó Sư đoàn trưởng thuộc Chí nguyện quân Nhân dân Trung Quốc. Năm 1955, ông trở về Trung Quốc và được phong quân hàm Đại tá.

Năm 1955, Vạn Hải Phong vào Đại học Quốc phòng PLA, nơi ông tốt nghiệp năm 1959. Sau khi tốt nghiệp, ông được bổ nhiệm làm Sư đoàn trưởng Lục quân. Tháng 5 năm 1972, ông được thăng chức lên vị trí Phó Tư lệnh Quân khu Bắc Kinh và giữ chức vụ đó đến tháng 10 năm 1975, khi ông được bổ nhiệm làm Phó Chính ủy Quân khu, Ủy viên Thường vụ Đảng ủy Quân khu Bắc Kinh. Ông chỉ huy các binh sĩ tham gia công tác cứu trợ trận động đất Đường Sơn.[2] Tháng 10 năm 1982, ông được bổ nhiệm giữ chức Chính ủy Quân khu Thành Đô, một vị trí ông giữ đến tháng 4 năm 1990. Tháng 9 năm 1988, ông được phong quân hàm Thượng tướng. Tháng 9 năm 1998, ông nghỉ hưu.

Ngày 2 tháng 9 năm 2015, ông được thuê làm Chủ tịch danh dự Trường Hồng quân ở Nghi Xương, tỉnh Hồ Bắc.[3]

Đời sống cá nhân[sửa | sửa mã nguồn]

Đầu năm 1943, Vạn Hải Phong gặp Triệu Chính, khi bà là bác sĩ phẫu thuật.[1] Lễ cưới của họ được tổ chức vào tháng 10 cùng năm ấy. Đôi vợ chồng có bốn người con.[4]

Phần thưởng[sửa | sửa mã nguồn]

Tham khảo[sửa | sửa mã nguồn]

  1. ^ a ă 传奇万海峰:抗日智多星到开国“上将” [Legendary Wan Haifeng: A brain truster in the Counter Japanese War and Founding General]. china.com.cn (bằng tiếng Trung). Ngày 22 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 25 tháng 4 năm 2018. 
  2. ^ a ă 万海峰:主动请缨去唐山抗震救灾. iFeng (bằng tiếng Trung). Ngày 14 tháng 6 năm 2011. 
  3. ^ 万海峰上将担任湖北宜昌少年红军学校荣誉校长 [General Wan Haifeng will be honorary president of Red Army School in Yichang, Hubei]. people.com.cn (bằng tiếng Trung). Ngày 20 tháng 10 năm 2011. 
  4. ^ 共盟奋勉情更浓——记万海峰上将与夫人赵政的婚姻故事 [Marriage Stories of Wan Haifeng and Zhao Zheng]. sina (bằng tiếng Trung). Ngày 3 tháng 11 năm 2003.